Hành trình 59 mốc lịch sử xác lập, mở rộng và bảo vệ biên cương, chính thể từ thời Hùng Vương đến Thống nhất đất nước.
Khởi nguồn cương vực từ nước Văn Lang thời các vua Hùng, nước Âu Lạc của An Dương Vương đến thời kỳ Nam Việt.

Vào khoảng thế kỷ VII trước công nguyên (2879 TCN), trên cơ sở phát triển rực rỡ của văn hóa Đông Sơn, nhà nước cổ đại đầu tiên ở Việt Nam là nhà nước Văn Lang ra đời, với kinh đô Phong Châu (Việt Trì, Phú Thọ ngày nay) ra đời. Đến khoảng thế kỷ III trước Công nguyên (258 TCN), nhà nước Văn Lang ngày càng suy yếu, nhân thời cơ đó Thục Phán An Dương Vương đã thống nhất cư dân u Việt và Lạc Việt lập ra nhà nước Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa (Hà Nội). Do đó, dân gian quan niệm rằng nước Văn Lang đời trong thời kỳ của các vị vua Hùng cách ngày nay khoảng hơn 4000 năm văn hiến.

Theo truyền thuyết và sử cũ thì An Dương Vương tên là Thục Phán là cháu vua nước Thục. Nước Thục này không phải là nước Thục ở vùng Tứ Xuyên thời Chiến Quốc (Trung Quốc) mà là một bộ tộc đã tới vùng Bắc Bộ từ lâu, sống xen kẽ với người Lạc Việt và người Thái. Tục gọi là người Âu Việt. Chuyện xưa kể rằng: Vua Hùng Vương có người con gái nhan sắc tuyệt vời tên là Mị Nương. Vua nước Thục nghe tin, sai sứ sang cầu hôn. Vua Hùng Vương muốn gả nhưng Lạc Hầu can rằng: Thục muốn lấy nước ta, chỉ mượn tiếng cầu hôn đó thôi. Không lấy được Mị Nương, Thục Vương căm giận, di chúc cho con cháu đời sau thế nào cũng phải diệt nước Văn Lang của vua Hùng. Đến đời cháu là Thục Phán mấy lần đem quân đi đánh nước Văn Lang. Nhưng vua Hùng Vương có tướng sĩ giỏi, đã đánh bại quân Thục. Vua Hùng Vương nói: ta có sức thần, nước Thục không sợ hay sao? Bèn chỉ say sưa yến tiệc không lo việc binh bị. Bởi thế, khi quân Thục lại kéo đến đánh nước Văn Lang, vua Hùng còn trong cơn say. Quân Thục đến gần, vua Húng trở tay không kịp phải bỏ chạy rồi nhảy xuống sông tự tử. Tướng sĩ đầu hàng. Thế là nước Văn Lang mất. Năm Giáp Thân (257 trước Công nguyên), Thục Phán dẹp yên mọi bề, xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu là Âu Lạc, (tên hai nước Âu Việt và Lạc Việt ghép lại) đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Phú Thọ).

Nhà Triệu được hình thành trong bối cảnh lịch sử hỗn loạn cuối thời nhà Tần (221 TCN – 206 TCN) ở Trung Quốc.
Hơn một nghìn năm đấu tranh bền bỉ chống đồng hóa, các cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, Lý Bí lập nước Vạn Xuân, Mai Hắc Đế, Phùng Hưng.

Sau khi tiêu diệt nước Nam Việt của Nhà Triệu vào năm 111 TCN, Nhà Hán (Tây Hán) của Trung Quốc chính thức thiết lập sự cai trị trực tiếp lên lãnh thổ Âu Lạc cũ (miền Bắc Việt Nam ngày nay), mở ra giai đoạn Bắc Thuộc lần thứ Nhất.

Đến những năm đầu công nguyên từ miền đất Mê Linh (Vùng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, Vĩnh Phú) đã xuất hiện hai người con gái kiệt xuất (Gia đình họ Trưng có nghề chăn tằm. Nghề chăn tằm gọi kén đầy là kén chắc kén mỏng là kén nhì. Tên gọi Trắc và Nhị từ đó mà ra) và ở Chu Diên (Chu Diên nằm ở dọc sông Đáy, sông Hồng, trên đất Hà Sơn Bình, Hà Nội, Hải Hưng ngày nay) là chàng trai Thi Sách dũng mãnh. Bởi thế, mùa xuân năm ấy, khi mùa săn ở Mê Linh bắt đầu, quan lạc tướng Chu Diên đã cho con trai là Thi Sách dẫn theo một toán thân binh tới Mê Linh để kết thân với họ Trưng. Ý quan lạc tướng Chu Diên đã rõ, hai miền đất Mê Linh và Chu Diên liên kết được với nhau thì chẳng phải chỉ tốt lành cho chuyện nhân duyên của đôi trẻ Thi Sách - Trưng Trắc mà sức xoay chuyển tình thế, lật đổ ách đô hộ của nhà Hán, khôi phục lại nước cũ của người Việt. Ít lâu sau, trong niềm hoan hỉ của mọi người, Trưng Trắc đã cùng Thi Sách kết nghĩa vợ chồng. Hôn lễ vẫn theo đúng lệ cũ của người Việt: vợ chồng tuy thành thân nhưng người nào vẫn ở lại đất cũ của người ấy. Tô Định giật mình trước cuộc hôn nhân của nữ chủ đất Mê Linh với con trai lạc tướng Chu Diên. Bởi hắn biết rõ, đằng sau cuộc hôn lễ là sự liên kết thế lực giữa hai miền đất lớn của người Việt. Sự liên kết đang nhân bội sức mạnh chống lại nền đô hộ của nhà Hán. Linh cảm thấy trước một cuộc biến sẽ xảy ra mà cội nguồn của nó từ đất Mê Linh, Tô Định hoảng hốt tìm cách triệt phá vây cánh của Trưng Trắc bằng cách đem đại binh đột ngột kéo về Chu Diên, bắt giết Thi Sách, xem như đòn trấn áp phủ đầu của hắn. Tin dữ từ Chu Diên đưa tới khiến Trưng Trắc ra lệnh nổi trống đồng họp binh quyết trả thù cho chồng, rửa nhục cho nước. Nghe tiếng trống ầm ào nổi lên, dân Mê Linh cung nỏ, dao búa, khiên mộc, giáo lao trong tay cuồn cuộn đổ về nhà làng. Trên bành voi cao, nữ chủ tướng Mê Linh mặc giáp phục rực rỡ. Dân Mê Linh trông thấy nữ chủ tướng đẹp đẽ, oai phong lẫm liệt thì hò reo dậy đất, ào ào bám chân voi, theo chủ tướng mà xốc tới. Trước khí thế ngút trời của đoàn quân khởi nghĩa, toà đô úy trị của nhà Hán trên đất Mê Linh phút chốc đã tan tành. Dân Mê Linh đạp bằng dinh lũy giặc tiến xuống Luy Lâu. Trong đoàn quân trẩy đi phá quận Giao Chỉ của nhà Hán, ngày càng có thêm nhiều đoàn quân từ các nơi đổ về. Thành Luy Lâu cũng không đương nổi cuộc công phá của một biển người ào ào xung sát, dũng mãnh theo hiệu trống đồng của Trưng Trắc, Trưng Nhị. Tô Định kinh hoàng cao chạy bay xa về Nam Hải chịu tội với vua Hán. Tin thắng trận dồn dập bay đi. Nỗi vui mừng quá lớn khiến cho người dân Việt nhiều đêm liền không ngủ. Trải qua hàng chục đời, nay đất nước của vua Hùng mới được khôi phục, nợ nước thù nhà của chủ tướng Mê Linh đã được trả. Trai gái rìu đồng, giáo sắc nắm chắc trong ray, những chiếc lông chim cắm ngất ngưởng trên đầu, bộ áo lông chim xòe rộng theo nhịp trống đồng dồn dập như không bao giờ dứt. Tin thắng trận bay đi. Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cũng nổi lên theo về với Hai Bà Trưng. Đất nước sạch bóng quân thù. Hai Bà Trưng được cả nước tôn lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Những nữ thủ lĩnh, nữ nam cừ súy được phong các chức tướng lĩnh rồi người nào trở về đất ấy dốc sức cùng dân xây đất nước. Năm Tân Sửu (41), vua Hán sai Mã Viện làm tướng quân, Lưu Long làm phó tướng cùng với quan lâu thuyền tướng quân là Đoàn Chí đem 20 vạn tinh binh kéo sang đánh Trưng Vương. Một trận quyết chiến tối sầm cả trời đất giữa 20 vạn quân của Mã Viện với dân binh các làng chạ do Trưng Vương thống suất đã diễn ra ở Lăng Bạc (vùng từ Đông Triều đến Yên Phong, Hà Bắc). Quân Mã Viện đóng sẵn trên các triền đất cao giữa vùng Lăng Bạc lầy lội chuẩn bị tiến công Mê Linh thì bị Trưng Vương đem quân tới chặn đánh. Hơn một vạn người Việt đã ngã xuống trong trận đánh bất lợi này. Trưng Vương thu quân về giữ Cấm Khê (Vùng Thạch Thất, Hà Nội và Quốc Oai, Hà Tây). Mã Viện lại kéo tới, một loạt trận huyết chiến nữa lại nổ ra, máu chảy đỏ sông Hồng, sông Đáy. Hơn 2 vạn người Việt nữa lại nằm xuống ở đây. Chiến trường chính chống lại cuộc đàn áp man rợ của Mã Viện là 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân, tổng số dân mới có 91 vạn cả trẻ già lớn bé. Vậy mà chỉ trong mấy trận đánh, hơn 4 vạn người Việt đã bị giết và bị bắt. Quyết chống giặc đến cùng, sức lực của người Việt hầu như dốc cạn để sống mái với bọn lang sói theo ý chí của Trưng Vương. Trong một trận đánh, sau khi phóng những ngọn lao và bắn những mũi tên cuối cùng. Trưng Trắc, Trưng Nhị đã gieo mình xuống dòng Hát Giang. Đó là ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão (43).

Sau khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, nhà Đông Hán lập lại ách thống trị đối với nước ta. Chính sách nô dịch, bóc lột và đồng hóa được đẩy mạnh, có hệ thống và quy mô lớn hơn trước.

NHÀ TIỀN LÝ Trong suốt mấy thế kỷ, hầu như không có thế kỷ nào là không có khởi nghĩa của nhân dân, không một lúc nào bọn đô hộ phương Bắc được ăn ngon, ngủ yên. Phong trào đấu tranh của nhân dân đang chuyển dần vai trò lãnh đạo từ các quý tộc bộ lạc cũ sang các hào trưởng. Vào giữa thế kỷ VI, phong trào khởi nghĩa nhân dân đã tiến lên cao trào làm nổ ra cuộc khởi nghĩa Lý Bí dẫn tới việc thành lập Nhà nước Vạn Xuân. Đây là mốt cột mốc lớn, một đột phá hết sức quan trọng trong lịch sử hơn nghìn năm chống Bắc thuộc của nhân dân ta.

Năm 602, nhà Tùy sai Lưu Phương đem quân 27 dinh sang đánh nước Vạn Xuân. Vua đời thứ ba của Vạn Xuân là Lý Phật Tử sợ giặc và đầu hàng, bị bắt sang Trung Hoa. Việt Nam vào thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 3 mà trước hết là thuộc Tùy. Thời đó, Việt Nam bị xếp làm một châu của Tùy, gọi là châu Giao (交州). Trên đường đánh Lâm Ấp quay về, Lưu Phương mắc bệnh chết.

KHÚC THỪA DỤ Năm 905 SCN, Nhà Đường ở Trung Quốc suy yếu nghiêm trọng và nội bộ lục đục. Khúc Thừa Dụ, một hào trưởng địa phương có uy tín ở Hồng Châu (Hải Dương), đã nắm bắt thời cơ này. Ông huy động lực lượng, tiến đánh và chiếm giữ phủ thành Tống Bình (Hà Nội). Để tránh xung đột trực tiếp với triều đình Trung Nguyên, Khúc Thừa Dụ tự xưng là Tiết độ sứ Tĩnh Hải Quân. Hành động này rất khôn ngoan: về danh nghĩa, ông vẫn là quan lại của Nhà Đường, nhưng trên thực tế, quyền lực cai trị vùng đất này đã hoàn toàn nằm trong tay người Việt.

Ngô Quyền người xã Đường Lâm tỉnh Sơn Tây [theo An Nam Kỷ Yếu, quê tại châu Ái, Thanh Hóa], là tướng giỏi của Tiết độ sứ Dương Đình Nghệ, nên được Tiết độ sứ gả con gái cho; rồi cho giữ Ái Châu. Sau khi phản tướng Kiều Công Tiễn giết Dương Đình Nghệ [937], Ngô Quyền mang quân từ châu Ái ra Bắc, đánh Kiều Công Tiễn; Công Tiễn không chống nổi bèn mang của cải đút lót cho vua Nam Hán để xin cứu viện.

Từ khi Tam Kha cướp ngôi nhà Ngô, thổ hào các nơi đua nhau nổi dậy. Xương Văn tuy lấy lại được nước, nhưng hai anh em bất hòa, không thể thống nhất được; đến khi đi đánh Thái Bình, bị chết trận, từ đó trong nước rối loạn. Một viên tướng người họ Ngô là Ngô Xương Xí tụ tập quân giữ Bình Kiều. Nha tướng nhà Ngô là Đỗ Cảnh Thạc giữ Đỗ Động Giang. Thổ hào các nơi khác cũng nổi lên mỗi người giữ một nơi, ai cũng xưng hùng trưởng. Sau Tiên Hoàng nhà Đinh nổi lên, dẹp yên được cả, từ đấy giang sơn mới thống nhất.

Đinh Bộ Lĩnh người động Hoa Lư, Châu Đại Hoàng (Hoa Lư, Ninh Bình), con Đinh Công Trứ, một nha tướng của Dương Đình Nghệ giữ chức thứ sử Châu Hoan. Đinh Công Trứ mất sớm, Bộ Lĩnh theo mẹ về quê ở, thường đi chơi với trẻ chăn trâu, bắt chúng khoanh tay làm kiệu để ngồi cho chúng rước và lấy bông lau làm cờ bày trận đánh nhau. Lớn lên, nhờ thông minh, có khí phách lại có tài thao lược nên khi Đinh Bộ Lĩnh dựng cờ dấy nghĩa mong lập nghiệp lớn, dân làng theo ông rất đông. Nhưng vì bất hoà với chú, Bộ Lĩnh cùng với con là Đinh Liễn sang ở với sứ quân Trần Minh Công ở Bồ Hải Khẩu (Kiến Xương, Thái Bình). Thấy Bộ Lĩnh là người khôi ngô, có chí khí, Minh Công trao cho Bộ Lĩnh giữ binh quyền. Khi Trần Minh Công qua đời, Bộ Lĩnh đem quân về giữ Hoa Lư, chiêu mộ hào kiệt, hùng cứ một phương. Năm Tân Hợi (951) đời hậu Ngô Vương, Nam Tấn vương cùng Thiên Sách vương đem quân đến đánh nhưng cả hai đều đại bại phải rút quân về. Đến khi nhà Ngô mất, Đinh Bộ Lĩnh dụ hàng được các sứ quân Ngô Nhật Khánh, Ngô Xương Xí, phá được Đỗ Động của Nguyễn Cảnh Thạc. Từ đó, Đinh Bộ Lĩnh đánh đâu được đấy, được tôn là Vạn Thắng Vương. Chỉ trong một năm, Đinh Bộ Lĩnh đã bình được các sứ quân, lập thành nghiệp đế. Năm Mậu Thìn (968) Vạn Thắng vương lên ngôi Hoàng đế lấy hiệu là Tiên Hoàng đế, đặt quốc hiệu là Đại Cổ Việt, đóng đô ở Hoa Lư. Đinh Tiên Hoàng xây cung điện, chế triều nghi, định phẩm hàm quan văn, quan võ, phong cho Nguyễn Bặc là Đinh Quốc công, Lê Hoàn làm Thập Đạo tướng quân (tổng chỉ huy quân đội) và phong cho con là Đinh Liễn làm Nam Việt vương. Về ngoại giao, để tránh cuộc đụng độ với nhà Tống năm Nhâm Thân (972), Đinh Tiên Hoàng sai con là Đinh Liễn mang đồ vật sang cống. Vua nhà Tống sai sứ sang phong cho Tiên Hoàng làm Giao Chỉ quận vương và phong cho Nam Việt vương Đinh Liễn làm Tĩnh Hải quân Tiết độ sứ An Nam đô hộ. Từ đó nước ta giữ lệ sang triều cống phương Bắc. Đinh Tiên Hoàng đã dẹp xong loạn 12 sứ quân. Nhưng nhìn chung nhiều nơi vẫn chưa tuân theo luật lệ của triều đình. Bởi vậy, để răn đe kẻ phản loạn, Đinh Tiên Hoàng đặt vạc dầu ở trước điện, nuôi hổ báo ở trong vườn, tuyên cáo rằng ai phạm tội thì bỏ vạc dầu hoặc cho hổ báo ăn thịt. Dù chưa phải dùng hình phạt ấy nhưng mọi người sợ oai, phép nước được tuân thủ. Nhưng rồi Đinh Tiên Hoàng phạm sai lầm bỏ trưởng lập ấu, cho con út là Hạng Lang làm thái tử. Con trưởng là Nam Việt vương Đinh Liễn đã theo Tiên Hoàng đi trận mạc từ thuở hàn vi, không được kế vị, tức giận, sai người giết Hạng Lang đi. Hoạ loạn gây nên ngay trong hoàng tộc. Năm Kỷ Mão (979) Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị tên Đỗ Thích giết chết. Đỗ Thích trước làm lại, đêm nằm mơ thấy sao rơi vào mồm, tưởng là điềm báo được làm vua bèn định bụng sát hại minh chủ. Một hôm Đỗ Thích thấy vua Đinh say rượu nằm trong cung bèn lẻn vào sát hại rồi tìm giết nốt con cả là Đinh Liễn. Triều thần tìm bắt được Đỗ Thích đem xử tội và tôn Vệ vương Đinh Toàn lên làm vua. Đinh Tiên Hoàng làm vua được 12 năm, thọ 56 tuổi.

Năm 980, Lê Hoàn lên ngôi vua, lập ra triều Tiền Lê. Triều Tiền Lê có những cống hiến to lớn vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước với thắng lợi vang dội của cuộc kháng chiến chống Tống (năm 981) và bình định Chăm-pa (năm 982).
Kỷ nguyên định hình giang sơn vững chãi qua các triều đại Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê đến Nhà Mạc.

Sự ra đời của nhà Lý vào năm 1009 đánh dấu một bước ngoặt lịch sử, diễn ra trong sự đồng thuận hiếm thấy, chấm dứt triều Tiền Lê suy yếu. Khi vua Lê Long Đĩnh băng hà, triều thần và giới tăng lữ, đứng đầu là Thiền sư Vạn Hạnh và đại thần Đào Cam Mộc, đã tôn Lý Công Uẩn (Lý Thái Tổ) lên ngôi, lập nên triều đại mới với niên hiệu Thuận Thiên. Ngay lập tức, vị Hoàng đế khai sáng này đã đưa ra quyết định mang tính chiến lược: dời đô từ vùng núi Hoa Lư chật hẹp về thành Đại La trù phú, đổi tên thành Thăng Long vào năm 1010. Về mặt tổ chức nhà nước, Lý Thái Tổ thiết lập một chính quyền quân chủ tập quyền vững mạnh, trong đó vua nắm giữ quyền lực tối cao, đặt nền móng cho hệ thống cai trị sau này. Ông cho kiện toàn bộ máy trung ương và bắt đầu xây dựng hệ thống quan lại, tăng cường sự kiểm soát từ triều đình xuống các địa phương.

Năm 1014, chỉ vài năm sau khi dời đô về Thăng Long, triều đình nhà Lý dưới sự lãnh đạo của Lý Thái Tổ đã phải đối mặt với thách thức nghiêm trọng ở biên giới phía Tây Bắc từ Vương quốc Đại Lý – một quốc gia được thành lập bởi Đoàn Tư Bình vào năm 937 tại vùng đất nay là Vân Nam, Trung Quốc, tồn tại như một láng giềng lớn và phức tạp của Đại Cồ Việt. Khi quân Đại Lý, dưới sự chỉ huy của các tướng Dương Trường Huệ và Đoàn Kính Chí, tiến đánh vùng biên, Lý Thái Tổ lập tức cử Dực Thánh Vương chỉ huy quân đội đi dẹp loạn. Chiến thắng quyết định của quân Đại Cồ Việt đã đánh tan đội quân xâm lược, bắt sống tướng giặc và thu được vô số ngựa chiến. Tận dụng thắng lợi quân sự này, nhà Lý không chỉ bảo vệ được lãnh thổ hiện có mà còn thực hiện bước mở rộng cương vực quan trọng về phía Tây Bắc, chính thức sáp nhập khu vực ngày nay là Hà Giang vào bản đồ Đại Cồ Việt. Sự kiện năm 1014 không chỉ là một chiến thắng giữ nước mà còn là một dấu mốc khẳng định sức mạnh quân sự và khả năng kiểm soát hiệu quả của chính quyền trung ương nhà Lý đối với các vùng miền núi xa xôi, củng cố vững chắc nền tảng cho sự phát triển hưng thịnh của đất nước.

Thời vua Lý Thái Tông, thời ấy giặc giã còn nhiều nên vua thường phải thân trinh đi trận mạc. Năm Mậu Dần (1038) có Nùng Tốn Phúc ở châu Quảng Nguyên (Lạng Sơn) làm phản, tự xưng là Chiêu Thánh hoàng đế, lập A Nùng làm hoàng hậu, đặt quốc hiệu là Trường Sinh rồi đem quân đi đánh phá các nơi. Năm sau, vua Thái Tông thân đi đánh được Nùng Tốn Phúc và con lag Nùng Trí Thông đem về kinh xử tội. Còn A Nùng và con là Nùng Trí Cao chạy thoát. Năm Tận Tị (1041) Nùng Trí Cao cùng với mẹ về lấy được châu Thảng Do (gần châu Quảng Nguyên) lập ra nước Đại Lịch. Thái Tông sai tướng lên đánh bắt được Nùng Trí Cao. Vua thương tình tha tội chết và cho làm Quảng Nguyên mục và gia phong cho tước Thái Bảo. Nhưng năm Mậu Tí (1048) Nùng Trí Cao lại xưng là Nhân Huệ hoàng đế, quốc hiệu là Đại Nam chống lại triều đình. Vua sai tướng Quách Thịnh Dật lên đánh. Nùng Trí Cao đem quân sang đánh chiếm Ung Châu rồi lần lượt 8 châu khác thuộc Quảng Đông, Quảng Tây của nhà Tống.

Về phía Nam, năm 1069 vua Lý Thánh Tông nam tiến đánh nước Chiêm Thành và bắt được vua Chiêm lúc bấy giờ là Chế Củ (Jaya Rudravarman), đem về kinh đô Thăng Long. Vua Chiêm đã phải cắt các vùng đất phía bắc của Chiêm Thành gồm ba châu là: Bố Chính, Ma Linh, Địa Lý cho nước Đại Việt.

Lý Anh Tông kế vị ngôi vua mới có 3 tuổi. Bởi vậy, thái hậu Lê Thị cầm quyền nhiếp chính. Lê Thái hậu lại tư thông với Đỗ Anh Vũ, cho nên mọi việc lớn nhỏ trong triều đều nằm trong tay vị đại thần họ Đỗ này cả. Năm 1158, Lý Anh Tông chính thức nắm lại mọi quyền vị, dựa vào Tô Hiến Thành và những hiền thần khác như Hoàng Nghĩa Hiền, Lý Công Tín để tiến hành thân chính. Tiếp nối gương của Thái úy Lý Thường Kiệt, Thái úy Tô Hiến Thành đã cùng vua Lý Anh Tông đi dẹp loạn các nơi, mở mang bờ cõi thêm về phía Tây bắc. Năm 1159, nhân khi nước Đại Lý suy yếu, vua Lý Anh Tông và Tô Hiến Thành đã tiến hành thu phục vùng đất của các tù trưởng dân tộc thiểu số người Thái ở bắc Yên Bái, nam Lào Cai vào lãnh thổ Đại Việt.

Nhờ Trần Thủ Độ thu xếp, Lý Chiêu Hoàng đă nhường ngôi cho Trần Cảnh tức là vua Trần Thái Tông. Những năm đầu tiên, Trần Cảnh còn nhỏ tuổi, toàn bộ quyền hành của nhà Trần đều do Trần Thủ Độ nắm quyền.

Nhà Hồ bắt đầu khi Hồ Quý Ly lên ngôi năm 1400 sau khi giành được quyền lực từ tay nhà Trần. Nhà Hồ cho đo đạc lại ruộng đất, cải cách chế độ thi cử, mở mang việc giáo dục, tăng cường quân đội thường trực, xây dựng các tuyến phòng thủ, lập xưởng đúc binh khí kỹ thuật để chống giặc phương Bắc.

Năm 1402, Hồ Hán Thương mang quân đi đánh Chiêm Thành, 2 bên giao chiến đều có thiệt hại nhưng cuối cùng quân Chiêm bị thua, vua Chiêm là Ba Đích sợ hãi dâng voi trắng, voi đen và xin nộp đất Chiêm Động (nam Quảng Nam) để làm điều kiện cho nhà Hồ lui quân. Hồ Quý Ly không chấp nhận, bắt phía Chiêm Thành phải làm tờ biểu khác và dâng cả đất Cổ Lũy (bắc Quảng Ngãi). Ba Đích thế yếu phải chấp nhận yêu sách của nhà Hồ, bèn chuyển dân về phía nam và nộp đất Chiêm Động, Cổ Lũy. Sau đó, Hồ Quý Ly lập bốn châu mới ở vùng này: Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa — tương ứng với Quảng Nam, Quảng Ngãi ngày nay.

Nhân cơ hội Đại Ngu xảy ra loạn, sau một loạt thăm dò tình hình, năm 1406, Minh Thành Tổ Chu Đệ dùng chiêu bài "phù Trần diệt Hồ", sai hai tướng Hàn Quan, Hoàng Trung đem 10 vạn quân Quảng Tây xâm lược Đại Ngu, đánh tiếng là đưa Trần Thiêm Bình về làm vua (thực ra người này giả mạo là tôn thất nhà Trần). Quân Đại Ngu đón đánh ở biên giới, quân Minh thua trận chạy về. Vua Hồ Hán Thương bắt xử lăng trì Trần Thiêm Bình. Cuối năm này Minh Thành Tổ lại sai Trương Phụ và Mộc Thạnh đem 80 vạn quân đánh Đại Ngu. Quân Đại Ngu do Thượng hoàng Hồ Quý Ly, Hoàng đế Hồ Hán Thương chỉ huy nhanh chóng thất bại hoàn toàn vào giữa năm 1407. Cả Hồ Quý Ly và Hồ Hán Thương bị bắt về Trung Quốc, Đại Ngu bị sáp nhập vào lãnh thổ Đại Minh. Nước Việt bị Trung Quốc đô hộ trở lại sau 500 năm độc lập tự chủ.

Ngay khi nhà Hồ thất bại, đã có nhiều phong trào chống Minh bắt đầu nổi lên. Từ năm 1417 trở đi, một loạt các cuộc khởi nghĩa mới lại bùng lên, lần này cuốn hút cả các quan lại người Việt vốn cộng tác, hoặc đầu hàng nhà Minh trước kia. Năm 1417, tổng binh Lý Bân đánh dẹp hai cuộc khởi nghĩa lớn.

Năm 1471 vua Lê Thánh Tông mang 20 vạn quân nam tiến đánh vào kinh đô Vijaya (đất Bình Định ngày nay) nước Chiêm Thành, kinh đô Vijaya của Chiêm Thành thất thủ. Vua Lê Thánh Tông đã sáp nhập vùng đất bắc Chiêm Thành vào Đại Việt (ngày nay bao gồm ba tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định). Lê Thánh Tông chia đất Chiêm Thành ra ba phần:

Năm Hồng Đức thứ 9 (1478), nước Bồn Man phản nghịch, giết quan coi châu của ta là Đỗ Nhạc. Vua (Lê Thánh Tông) sai các tướng Lê Thọ Vực, Lê Hy Cát, Lê Niệm, Lê Thực, Lê Nhân Dư đem quân đi đánh, lấy cớ “Bồn Man vô đạo, giết người của ta”. Quân Đại Việt tiến đánh Bồn Man, đánh bại và bắt sống vua Bồn Man, sáp nhập đất ấy.

Khoảng đầu kỷ 16, nhà Hậu Lê lúc này đã bắt đầu suy yếu. Một võ tướng nhà Lê là Mạc Đăng Dung đứng ra trấn áp các cuộc nổi dậy, dần dần nắm lấy quyền hành triều Lê.

Sau khi vương quốc Champa bị nhà Trần đánh bại năm 1471, lãnh thổ Champa bị thu hẹp đáng kể, chỉ còn lại vùng từ đèo Cù Mông trở vào Nam (nay là Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận). Tuy nhiên, Champa vẫn tồn tại dưới các tiểu vương quốc như Panduranga (Phan Rang) và thường gây hấn hoặc cướp phá biên giới Đại Việt, đặc biệt vùng giáp ranh Hoa Anh – Phú Yên – Khánh Hòa.

Sau khi Nguyễn Phúc Tần lên ngôi (năm 1648), Đàng Trong đang mạnh mẽ về quân sự và kinh tế. Lúc này, quan hệ Việt – Chăm lại trở nên căng thẳng, người Chăm thường xuyên quấy phá vùng biên giới Phú Yên, bắt người, cướp của, gây mất ổn định vùng biên giới.

Năm Mậu Tuất (1658) vua nước Chân Lạp (Campuchia, thời hậu Angkor) mất rồi, chú cháu tranh nhau ngôi vị, sang cầu cứu bên chúa Nguyễn. Chúa Nguyễn bấy giờ là chúa Hiền sai quan đem 3.000 quân sang đánh ở Mỗi-xuy (nay thuộc tỉnh Đồng Nai) bắt được vua nước ấy là Nặc-Ông-Chân đem về giam ở Quảng Bình một độ, rồi tha cho về nước, bắt phải triều-cống và phải bênh vực người Việt sang làm ăn ở bên ấy.

Phía nam, năm Kỷ Tỵ (1679) có quan nhà Minh là tổng binh trấn thủ đất Long Môn (Quảng Tây) Dương Ngạn Địch, phó tướng Hoàng Tiến, cùng Trần Thượng Xuyên là tổng binh châu Cao, châu Lôi, và châu Liêm (thuộc Quảng Đông), không chịu làm tôi nhà Thanh, đem 3.000 quân cùng 50 chiếc thuyền sang xin ở làm dân Việt Nam. Chúa Hiền không nỡ cự tuyệt, nhân muốn khai khẩn đất Chân Lạp, bèn cho vào ở đất Đông Phố (tức là đất Gia Định). Quân Ngạn Địch chia nhau ở đất Lộc Đã (tức là đất Đồng Nai), ở Mỹ Tho (thuộc Tiền Giang), ở Ban Lân (thuộc Đồng Nai) rồi cày ruộng làm nhà lập ra phường phố

Năm 1693, thời chúa Nguyễn Phúc Chu, tướng Nguyễn Hữu Cảnh tiến chiếm và chính thức sáp nhập phần còn lại của vương quốc Chiêm Thành lập trấn Thuận Thành nay là vùng đất Bình Thuận, Ninh Thuận ngày nay, tuy nhiên chính quyền Đàng Trong vẫn dành cho người Chăm chế độ tự trị ở đây cho đến năm 1832.

Năm 1699, Vũ Công Tuấn bị triều đình nhà Lê bắt và giết. Triều đình đặt chức Lưu thủ ở Tuyên Quang, từ đó dòng dõi “Chúa Bầu” chấm dứt. Lãnh thổ chúa Bầu chính thức sáp nhập vào đất nhà Lê-Trịnh

Sau khi chúa Nguyễn Phúc Tần đánh Chân Lạp năm 1658, vương quốc Chân Lạp trở thành nước phụ thuộc của chúa Nguyễn. Từ đó, người Việt bắt đầu di cư xuống vùng Nam Bộ, lập làng, khẩn hoang ở Đồng Nai, Gia Định, Biên Hòa, Bến Nghé. Lúc này, ở Chân Lạp có vua Nặc Tha (Satha II, trị vì khoảng 1725–1736). Nặc Tha đang gặp phải sự đe dọa của một phe phái do Nặc Nhu và Nặc Ông Thâm cầm đầu, nên phải cầu cứu chúa Nguyễn để giữ ngai vàng.

Từ năm 1736-1739, Mạc Thiên Tứ (con trai của Mạc Cửu) khai phá thêm vùng đất Cà Mau, Bạc Liêu, Cần Thơ (của Chân Lạp) sát nhập những khu vực này vào lãnh thổ phía Đàng Trong.
Hành trình các chúa Nguyễn khai phá phương Nam, phong trào Tây Sơn và sự xác lập chủ quyền toàn vẹn dưới triều Nguyễn.

Sau khi Chân Lạp dâng đất Mỹ Tho, Vĩnh Long (1732), quốc gia này vẫn tồn tại độc lập trên danh nghĩa, nhưng thực tế phụ thuộc mạnh vào chúa Nguyễn. Vua Chân Lạp phải triều cống hàng năm.

Năm 1757, vua Nặc Nguyên chết, chú là Nặc Nhuận dâng đất xin chúa Nguyễn Phúc Khoát phong cho làm vua Chân Lạp. Phúc Khoát không nghe, xuống chiếu rằng phải hiến thêm đất đai hai phủ Trà Vinh và Ba Thắc mới chuẩn cho lập ngôi. Không may, Nặc Nhuận bị con rể là Nặc Hinh giết để cướp ngôi. Trước sự bất ổn triều chính của Chân Lạp, chúa Nguyễn cho Thống suất Trương Phúc Du tiến đánh Nặc Hinh, rồi lập con của Nặc Nhuận là Nặc Tôn lên làm vua Chân Lạp. Để tạ ơn, Nặc Tôn xin hiến đất Tầm Phong Long (nằm giữa sông Tiền và sông Hậu, bao gồm An Giang ngày nay) cho chúa Nguyễn.

Vào giữa thế kỷ XVIII, xã hội Đàng Trong (dưới quyền chúa Nguyễn ở Phú Xuân – Huế) rơi vào tình trạng khủng hoảng nghiêm trọng:

Trước năm 1773, nghĩa quân Tây Sơn mới chỉ kiểm soát vùng Tây Sơn thượng đạo (miền núi phía tây Bình Định). Đầu năm 1773, Nguyễn Nhạc quyết định đánh xuống đồng bằng, nhằm chiếm lấy thành Quy Nhơn – trung tâm hành chính và quân sự lớn của chúa Nguyễn ở miền Trung.

Cuối năm 1774 đầu năm 1775 quân Trịnh tiến vào Phú Xuân. Chúa Nguyễn lúc này không chống nổi quân Trịnh phải bỏ chạy vào Quảng Nam. Quân Trịnh chiếm toàn bộ Thuận Hóa.

Quân Trịnh ở phía bắc đánh vào. Chúa Nguyễn không địch nổi hai kẻ địch phải bỏ chạy vào Gia Định. Tây Sơn bèn đầu hàng Trịnh để đánh Nguyễn. Năm 1777, Nguyễn Huệ đem quân vào đánh chiếm Gia Định, quân Tây Sơn truy lùng gắt gao, cả Nguyễn Phúc Thuần và Nguyễn Phúc Dương cùng một số quan lại đã bị bắt và bị giết. Vào năm này Chúa Nguyễn đã mất hoàn toàn quyền kiểm soát ở Đại Việt

Với danh nghĩa “Phù Lê diệt Trịnh”, Nguyễn Huệ sai Chỉnh làm tiên phong Bắc tiến. Quân Trịnh rệu rã nhanh chóng thua trận, các danh tướng phần nhiều nghe tin Phú Xuân thất thủ đã khiếp sợ, đến khi nghe quân Tây Sơn kéo ra, đa số đã bỏ trốn. Chúa Trịnh không được lòng dân, bỏ thành Thăng Long chạy, bị dân bắt đem nộp Tây Sơn. Trên đường áp giải, Trịnh Tông tự sát.

Sau nhiều năm bôn ba, chiến đấu chống lại nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh cuối cùng đã giành thắng lợi, chiếm được Phú Xuân (Huế) rồi tiến ra Thăng Long, chấm dứt hoàn toàn quyền lực của Tây Sơn. Ông lên ngôi hoàng đế, lấy niên hiệu là Gia Long, một tên gọi mang ý nghĩa sâu sắc: chữ “Gia” lấy từ Gia Định (nơi ông khởi nghiệp và gây dựng lực lượng), còn chữ “Long” lấy từ Thăng Long (kinh đô phía Bắc, biểu tượng của sự thống nhất). Cách đặt tên này thể hiện ý chí gắn kết Nam – Bắc, thống nhất giang sơn sau gần 250 năm chia cắt giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài. Sau khi lên ngôi, vua Gia Long chọn Phú Xuân (Huế), đổi tên nước thành Việt Nam năm 1804, tất cả đã đặt nền móng cho triều Nguyễn – triều đại quân chủ cuối cùng trong lịch sử Việt Nam"

Năm 1832 nhà Nguyễn bỏ chế độ tự trị của người Chăm ở trấn Thuận Thành (Bình Thuận, Ninh Thuận ngày nay) chính thức sát nhập vùng đất này vào lãnh thổ Việt Nam

Khoảng thời gian này, vùng đất Chân Lạp nhiều lần rơi vào cảnh nội chiến, tranh giành quyền lực giữa các phe thân Xiêm và thân Việt.

Việc đặt Trấn Tây Thành cùng với chính sách cai trị khiến cho lòng dân Chân Lạp không thuận, đã gây nhiều hao binh tổn lương, tướng sĩ mệt nhọc.

Ngày 1 tháng 9 năm 1858, liên quân Pháp – Tây Ban Nha dưới danh nghĩa “bảo vệ đạo Gia-tô” đã nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Mục tiêu ban đầu của Pháp là đánh nhanh, chiếm Huế, buộc triều đình nhà Nguyễn phải đầu hàng. Tuy nhiên, quân dân triều Nguyễn dưới sự chỉ huy của các tướng như Nguyễn Tri Phương, Phạm Thế Hiển, cùng sự phối hợp của nhân dân địa phương, đã kiên cường chống trả, khiến quân Pháp bị sa lầy ở Đà Nẵng suốt 5 tháng trời trong điều kiện thiếu lương thực và bệnh tật hoành hành.

Sau nhiều năm kháng cự không thành, triều đình nhà Nguyễn buộc phải ký Hòa ước Nhâm Tuất năm 1862. Theo hiệp ước này, nhà Nguyễn phải nhượng hẳn ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ gồm Gia Định, Biên Hòa và Định Tường (Mỹ Tho) cho thực dân Pháp, cùng với đảo Côn Lôn, đồng thời mở ba cửa biển Đà Nẵng, Ba Lạt và Quảng Yên cho thương nhân Pháp – Tây Ban Nha tự do buôn bán.
Thời kỳ Pháp thuộc, hai cuộc kháng chiến vĩ đại giải phóng dân tộc và ngày non sông thu về một mối năm 1976.

năm 1873, viên sĩ quan Francis Garnier dẫn quân ra Bắc Kỳ, chiếm Hà Nội và một số tỉnh đồng bằng. Sau khi Garnier bị giết, Pháp và triều đình Huế ký Hòa ước Giáp Tuất 1874, theo đó Việt Nam thừa nhận quyền cai trị của Pháp ở Nam Kỳ và mất quyền ngoại giao..

Tám năm sau, năm 1882, Pháp lại đem quân đánh chiếm Hà Nội lần thứ hai, mở rộng chiếm đóng ra Bắc. Tháng 8 năm 1883, sau khi quân Pháp tấn công Thuận An, buộc vua Hiệp Hòa và triều đình Huế ký Hiệp ước Harmand, trong đó, ta phải chấp nhận: Bắc Kỳ và Trung Kỳ đặt dưới sự bảo hộ của Pháp; triều đình Huế chỉ được cai trị nội bộ.

Đầu 1884, xung đột giữa quân Pháp và quân Thanh tại Bắc Kỳ (Hà Giang, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Hưng Hóa...). Pháp mở chiến dịch ở Bắc Kỳ, chiếm hàng loạt thành, nhà Thanh thua, buộc phải ký với Pháp Hiệp ước Thiên Tân (Tientsin Treaty, tháng 5/1884), trong đó Trung Quốc phải thừa nhận Bắc Kỳ thuộc phạm vi bảo hộ của Pháp và rút toàn bộ quân khỏi Việt Nam.

Năm 1887 người Pháp nhân danh nước Bảo hộ triều đình Huế ký Hiệp ước Pháp - Thanh nhường một dải đất Trường Bình, Bạch Long ở phía bắc sông Bắc Luân thuộc tổng Vạn Ninh nhượng cho nhà Thanh; 3/4 đất tổng Tụ Long thuộc tỉnh Hà Giang, có diện tích 750 km2 cho tỉnh Vân Nam – Trung Quốc; Sông Dương Hà (sông An Nam Giang) trước kia là đường biên giới nay lùi biên giới xuống phía nam, lấy cửa sông Bắc Luân ở Hải Ninh (Móng Cái) làm địa giới.

Năm 1893, 3 nước thuộc vương quốc Lan Xang cũ là Luang Phrabang, Vientiane và Champasak hợp thành một lãnh thổ bảo hộ thuộc Pháp là Lào.

Theo Nghị định ngày 5 tháng 6 năm 1893 của Toàn quyền Đông Dương, Tiểu quân khu phụ Lai Châu được thành lập gồm gồm châu Lai, châu Luân, châu Quỳnh Nhai, châu Phong Thổ và trực thuộc tỉnh Vạn Bú từ ngày 10 tháng 10 năm 1895.

Năm 1895, Pháp thành lập Đạo quan binh thứ ba ở Vạn Bú, gồm các vùng Sơn La, Lai Châu, Điện Biên. Vạn Bú (nay là thị xã Sơn La) khi đó là trung tâm của người Thái Trắng, có vị trí chiến lược trên tuyến sông Đà. Chính quyền Pháp chọn Vạn Bú làm trung tâm hành chính vùng Tây Bắc (thay cho Mường Lay và Lai Châu khi đó còn xa và hiểm trở).

. Khu vực vùng Tây Nguyên, trên danh nghĩa vẫn là đất của triều đình Huế, khu vực này trước 1900 gồm nhiều trấn, phủ, châu, buôn của các dân tộc thiểu số (Ê Đê, Ba Na, Gia Rai, Xơ Đăng…), chưa có ranh giới hành chính rõ ràng.

Tháng 3/1945, Nhật đảo chính Pháp, nắm toàn quyền Đông Dương, chính quyền tay sai Trần Trọng Kim ra đời. Tình hình xã hội cực kỳ hỗn loạn, nạn đói 1945 giết chết hơn 2 triệu người, đời sống nhân dân khốn cùng, lòng dân căm phẫn.

ngày 23 tháng 9 năm 1945 đã nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược lần thứ hai ở Việt Nam. Từ đó, Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp (1945–1954) kéo dài gần 9 năm, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) và Hiệp định Genève (1954).

Ngày 30/4/1975, quân Giải phóng miền Nam tiến vào Sài Gòn, Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện.

Vào ngày 25 tháng 04 năm 1976, Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã cùng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiến hành tổ chức cuộc Tổng tuyển cử để tái thống nhất Việt Nam, bầu ra 492 đại biểu của Quốc hội Việt Nam thống nhất.