BẮC THUỘC LẦN 2

Bản đồ lãnh thổ Việt Nam - BẮC THUỘC LẦN 2 - 44 - 554 SCN
Sau khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, nhà Đông Hán lập lại ách thống trị đối với nước ta. Chính sách nô dịch, bóc lột và đồng hóa được đẩy mạnh, có hệ thống và quy mô lớn hơn trước.
Chi Tiết Diễn Biến Cương Giới & Hành Chính
Từ sau Trưng Vương đến khởi nghĩa Lý Bí và sự thành lập Nhà nước Vạn Xuân
Sau khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, nhà Đông Hán lập lại ách thống trị đối với nước ta. Chính sách nô dịch, bóc lột và đồng hóa được đẩy mạnh, có hệ thống và quy mô lớn hơn trước.
Nhà Đông Hán ra sức tăng cường chế độ quận huyện, cử quan lại sang châu Giao cai trị tới cấp huyện. Mã Viện tâu với vua Hán là luật Việt và luật Hán khác nhau tới hơn 10 điểm và xin áp dụng luật Hán trên đất Việt. Như thế việc thủ tiêu chế độ lạc tướng và việc bãi bỏ luật pháp cố hữu của người Việt rõ ràng là âm mưu của người Hán muốn biến nước ta hoàn toàn trở thành những châu, quận, huyện do chúng trực tiếp cai trị.
Cuối thế kỷ II, đầu thế kỷ III, chính quyền Đông Hán tan rã, diễn ra cục diện "Tam Quốc": Nguỵ- Thục- Ngô (220 - 280). Quyền uy thực tế ở Giao Châu tập trung trong tay anh em Sỹ Nhiếp. Sau khi Sỹ Nhiếp chết, miền đất nước ta lệ thuộc vào nhà Ngô. Năm 280, Tấn diệt Ngô tạm thời thống nhất Trung Quốc, nhưng ít lâu sau chính quyền nhà Tấn lại tan rã tạo nên cục diện "Nam Bắc triều', trong đó Giao Châu phụ thuộc một cách lỏng lẻo vào các thế lực Tống, Tề, Lương, Trần thuộc Nam triều (420 - 589).
Nhìn chung suốt mấy trăm năm từ cuối đời Hán đến đầu đời Đường, triều đình phương Bắc chỉ có thể coi miền đất nước ta là miền đất ngoài (ngoại địa), chỉ áp đụng được chính sách thống trị “ràng buộc" lỏng lẻo ở các châu, quận, huyện.
Sau thất bại của cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng, trung tâm khởi nghĩa chuyển về quận Nhật Nam ở phía nam và qua nhiều lần nổi dậy liên tiếp của người Chăm và các dân tộc anh em khác đã dẫn tới việc thành lập nước Lâm Ấp vào cuối thế kỷ II.
Khu vực phía bắc, sau một thời gian tạm lắng các cuộc đấu tranh, từ nửa cuối thế kỷ II trở đi, phong trào khởi nghĩa lại hồi phục mà tiêu biểu là khởi nghĩa của Chu Đạt năm 157 ở Cửu Chân, khởi nghĩa Lương Long ở cả bốn quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố. Nghĩa quân đánh chiếm các quận huyện và đã làm chủ đất nước trong 4 năm (178- 181).
Sang thế kỷ III, trên đất nước ta bùng nổ cuộc khởi nghĩa lớn của Bà Triệu (năm 248) ở miền núi Nưa (Triệu Sơn, Thanh Hoá). Nghĩa quân đã đánh thắng quân Ngô nhiều trận, triệt hạ nhiều thành ấp. Quan lại của nhà Ngô từ thái thú đến huyện lệnh, huyện trưởng, kẻ bị giết, kẻ phải chạy trốn. Từ Chủ Chân, cuộc khởi nghĩa lan ra Giao Chỉ ở ngoài Bắc, giết chết thứ sử châu Giao. Khí thế cuộc khởi nghĩa đúng như sự thú nhận của sử nhà Ngô, đã khiến cho “ toàn thể châu Giao đều chấn động”.
Đứng trước nguy cơ tan rã của chính quyền đô hộ ở châu Giao, triều Ngô phải cử viên danh tướng Lục Dận làm Thứ sử Giao Châu An Nam hiệu úy đem khoảng 8.000 quân sang đàn áp cuộc khởi nghĩa. Bà Triệu đã lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu đến cùng và hy sinh anh dũng trên núi Tùng (Phú Điền,Hậu Lộc, Thanh Hóa). Câu nói nổi tiếng của Bà Triệu phản ánh tinh thần và ý chí độc lập, tự do của người Việt lúc đó: "Tôi muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá kình ở biển khơi, đánh đuổi quân Ngô, giành lại giang sơn, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tỳ thiếp người".
Tiếp nối Bà Triệu có hàng loạt các cuộc nổi dậy và khởi nghĩa khác liên tục nổ ra, tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa của Lý Trường Nhân (468 - 485).
