Logo Lịch Sử Việt NamLỊCH SỬ VIỆT NAM
Bản Tuyên Ngôn Độc Lập Đầu Tiên • Năm 1077
“Nam quốc sơn hà Nam đế cư, Tiệt nhiên định phận tại thiên thư. Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm, Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư.”

— Thái úy Lý Thường Kiệt (Phòng tuyến sông Như Nguyệt, 1077)

Dòng chảy lịch sử

Các Thời Kỳ Lớn Của Dân Tộc

Phân kỳ các triều đại và thời khắc chuyển mình của lịch sử nước nhà.

Xem toàn bộ 217 mốc biên niên sử
2879 TCN - 206 TCNThời kỳ cơ bản

THỜI HỒNG BÀNG

Khám phá chi tiếtMở thời kỳ
179 TCN–938Thời kỳ cơ bản

THỜI KỲ BẮC THUỘC

Khám phá chi tiếtMở thời kỳ
939-1858Thời kỳ cơ bản

PHONG KIẾN QUÂN CHỦ

Khám phá chi tiếtMở thời kỳ
1858–1945Thời kỳ cơ bản

LỊCH SỬ CẬN ĐẠI

Cận đại là thuật từ được dùng để chỉ thời kỳ lịch sử tiếp nối thời trung đại, có liên quan tới thời hiện đại.

Khám phá chi tiếtMở thời kỳ
1946–1954Thời kỳ cơ bản

KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP

Cuộc kháng chiến chống Pháp, hay còn được gọi là Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất là một cuộc xung đột diễn ra tại ba nước Đông Dương bao gồm Việt Nam, Lào và Campuchia, giữa một bên là Quân đội Viễn chinh Pháp cùng các lực lượng đồng minh bản xứ bao gồm lực lượng của Quốc gia Việt Nam, Vương quốc Lào, Vương quốc Campuchia thuộc Liên hiệp Pháp, bên kia là lực lượng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Việt Minh) cùng các lực lượng kháng chiến khác của Lào (Pathet Lào) và Campuchia (Khmer Đỏ). Cuộc chiến bắt đầu từ ngày 19 tháng 12 năm 1946 khi Hồ Chí Minh ra lệnh Toàn quốc kháng chiến và kết thúc ngày 20 tháng 7 năm 1954 khi Hiệp định Genéve được ký kết. Tuy nhiên xung đột thật sự đã nổ ra từ ngày 23 tháng 9 năm 1945 khi quân Pháp theo chân quân Anh tiến vào miền Nam Việt Nam để giải giáp quân Nhật.

Khám phá chi tiếtMở thời kỳ
1955 - 1975Thời kỳ cơ bản

KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ

Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước hay "Chiến tranh Đông Dương lần thứ hai", hoặc "Chiến tranh Việt Nam (Vietnam War)" theo tên gọi các nước phương Tây, là một cuộc xung đột diễn ra tại Việt Nam, Lào và Campuchia từ ngày 1 tháng 11 năm 1955 đến ngày 30 tháng 4 năm 1975 khi chính phủ Việt Nam Cộng hòa đầu hàng chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Khám phá chi tiếtMở thời kỳ
Non sông gấm vóc

Biến Đổi Lãnh Thổ Qua Các Thời Kỳ

59 mốc cương thổ ghi dấu hành trình mở cõi và bảo vệ biên cương của ông cha.

Xem toàn bộ 59 mốc bản đồ
2879 TCNCương vực Đại Việt

HÙNG VƯƠNG

Vào khoảng thế kỷ VII trước công nguyên (2879 TCN), trên cơ sở phát triển rực rỡ của văn hóa Đông Sơn, nhà nước cổ đại đầu tiên ở Việt Nam là nhà nước Văn Lang ra đời, với kinh đô Phong Châu (Việt Trì, Phú Thọ ngày nay) ra đời. Đến khoảng thế kỷ III trước Công nguyên (258 TCN), nhà nước Văn Lang ngày càng suy yếu, nhân thời cơ đó Thục Phán An Dương Vương đã thống nhất cư dân u Việt và Lạc Việt lập ra nhà nước Âu Lạc, đóng đô ở Cổ Loa (Hà Nội). Do đó, dân gian quan niệm rằng nước Văn Lang đời trong thời kỳ của các vị vua Hùng cách ngày nay khoảng hơn 4000 năm văn hiến.

Biến thiên lãnh thổXem diễn biến cương vực
257 TCNCương vực Đại Việt

AN DƯƠNG VƯƠNG

Theo truyền thuyết và sử cũ thì An Dương Vương tên là Thục Phán là cháu vua nước Thục. Nước Thục này không phải là nước Thục ở vùng Tứ Xuyên thời Chiến Quốc (Trung Quốc) mà là một bộ tộc đã tới vùng Bắc Bộ từ lâu, sống xen kẽ với người Lạc Việt và người Thái. Tục gọi là người Âu Việt. Chuyện xưa kể rằng: Vua Hùng Vương có người con gái nhan sắc tuyệt vời tên là Mị Nương. Vua nước Thục nghe tin, sai sứ sang cầu hôn. Vua Hùng Vương muốn gả nhưng Lạc Hầu can rằng: Thục muốn lấy nước ta, chỉ mượn tiếng cầu hôn đó thôi. Không lấy được Mị Nương, Thục Vương căm giận, di chúc cho con cháu đời sau thế nào cũng phải diệt nước Văn Lang của vua Hùng. Đến đời cháu là Thục Phán mấy lần đem quân đi đánh nước Văn Lang. Nhưng vua Hùng Vương có tướng sĩ giỏi, đã đánh bại quân Thục. Vua Hùng Vương nói: ta có sức thần, nước Thục không sợ hay sao? Bèn chỉ say sưa yến tiệc không lo việc binh bị. Bởi thế, khi quân Thục lại kéo đến đánh nước Văn Lang, vua Hùng còn trong cơn say. Quân Thục đến gần, vua Húng trở tay không kịp phải bỏ chạy rồi nhảy xuống sông tự tử. Tướng sĩ đầu hàng. Thế là nước Văn Lang mất. Năm Giáp Thân (257 trước Công nguyên), Thục Phán dẹp yên mọi bề, xưng là An Dương Vương, cải quốc hiệu là Âu Lạc, (tên hai nước Âu Việt và Lạc Việt ghép lại) đóng đô ở Phong Châu (Bạch Hạc, Phú Thọ).

Biến thiên lãnh thổXem diễn biến cương vực
204 TCNCương vực Đại Việt

THỜI NAM VIỆT

Nhà Triệu được hình thành trong bối cảnh lịch sử hỗn loạn cuối thời nhà Tần (221 TCN – 206 TCN) ở Trung Quốc.

Biến thiên lãnh thổXem diễn biến cương vực
111 TCNCương vực Đại Việt

BẮC THUỘC - NHÀ HÁN

Sau khi tiêu diệt nước Nam Việt của Nhà Triệu vào năm 111 TCN, Nhà Hán (Tây Hán) của Trung Quốc chính thức thiết lập sự cai trị trực tiếp lên lãnh thổ Âu Lạc cũ (miền Bắc Việt Nam ngày nay), mở ra giai đoạn Bắc Thuộc lần thứ Nhất.

Biến thiên lãnh thổXem diễn biến cương vực
40 TCNCương vực Đại Việt

THỜI HAI BÀ TRƯNG

Đến những năm đầu công nguyên từ miền đất Mê Linh (Vùng Hạ Lôi, huyện Yên Lãng, Vĩnh Phú) đã xuất hiện hai người con gái kiệt xuất (Gia đình họ Trưng có nghề chăn tằm. Nghề chăn tằm gọi kén đầy là kén chắc kén mỏng là kén nhì. Tên gọi Trắc và Nhị từ đó mà ra) và ở Chu Diên (Chu Diên nằm ở dọc sông Đáy, sông Hồng, trên đất Hà Sơn Bình, Hà Nội, Hải Hưng ngày nay) là chàng trai Thi Sách dũng mãnh. Bởi thế, mùa xuân năm ấy, khi mùa săn ở Mê Linh bắt đầu, quan lạc tướng Chu Diên đã cho con trai là Thi Sách dẫn theo một toán thân binh tới Mê Linh để kết thân với họ Trưng. Ý quan lạc tướng Chu Diên đã rõ, hai miền đất Mê Linh và Chu Diên liên kết được với nhau thì chẳng phải chỉ tốt lành cho chuyện nhân duyên của đôi trẻ Thi Sách - Trưng Trắc mà sức xoay chuyển tình thế, lật đổ ách đô hộ của nhà Hán, khôi phục lại nước cũ của người Việt. Ít lâu sau, trong niềm hoan hỉ của mọi người, Trưng Trắc đã cùng Thi Sách kết nghĩa vợ chồng. Hôn lễ vẫn theo đúng lệ cũ của người Việt: vợ chồng tuy thành thân nhưng người nào vẫn ở lại đất cũ của người ấy. Tô Định giật mình trước cuộc hôn nhân của nữ chủ đất Mê Linh với con trai lạc tướng Chu Diên. Bởi hắn biết rõ, đằng sau cuộc hôn lễ là sự liên kết thế lực giữa hai miền đất lớn của người Việt. Sự liên kết đang nhân bội sức mạnh chống lại nền đô hộ của nhà Hán. Linh cảm thấy trước một cuộc biến sẽ xảy ra mà cội nguồn của nó từ đất Mê Linh, Tô Định hoảng hốt tìm cách triệt phá vây cánh của Trưng Trắc bằng cách đem đại binh đột ngột kéo về Chu Diên, bắt giết Thi Sách, xem như đòn trấn áp phủ đầu của hắn. Tin dữ từ Chu Diên đưa tới khiến Trưng Trắc ra lệnh nổi trống đồng họp binh quyết trả thù cho chồng, rửa nhục cho nước. Nghe tiếng trống ầm ào nổi lên, dân Mê Linh cung nỏ, dao búa, khiên mộc, giáo lao trong tay cuồn cuộn đổ về nhà làng. Trên bành voi cao, nữ chủ tướng Mê Linh mặc giáp phục rực rỡ. Dân Mê Linh trông thấy nữ chủ tướng đẹp đẽ, oai phong lẫm liệt thì hò reo dậy đất, ào ào bám chân voi, theo chủ tướng mà xốc tới. Trước khí thế ngút trời của đoàn quân khởi nghĩa, toà đô úy trị của nhà Hán trên đất Mê Linh phút chốc đã tan tành. Dân Mê Linh đạp bằng dinh lũy giặc tiến xuống Luy Lâu. Trong đoàn quân trẩy đi phá quận Giao Chỉ của nhà Hán, ngày càng có thêm nhiều đoàn quân từ các nơi đổ về. Thành Luy Lâu cũng không đương nổi cuộc công phá của một biển người ào ào xung sát, dũng mãnh theo hiệu trống đồng của Trưng Trắc, Trưng Nhị. Tô Định kinh hoàng cao chạy bay xa về Nam Hải chịu tội với vua Hán. Tin thắng trận dồn dập bay đi. Nỗi vui mừng quá lớn khiến cho người dân Việt nhiều đêm liền không ngủ. Trải qua hàng chục đời, nay đất nước của vua Hùng mới được khôi phục, nợ nước thù nhà của chủ tướng Mê Linh đã được trả. Trai gái rìu đồng, giáo sắc nắm chắc trong ray, những chiếc lông chim cắm ngất ngưởng trên đầu, bộ áo lông chim xòe rộng theo nhịp trống đồng dồn dập như không bao giờ dứt. Tin thắng trận bay đi. Các quận Cửu Chân, Nhật Nam, Hợp Phố cũng nổi lên theo về với Hai Bà Trưng. Đất nước sạch bóng quân thù. Hai Bà Trưng được cả nước tôn lên làm vua, đóng đô ở Mê Linh. Những nữ thủ lĩnh, nữ nam cừ súy được phong các chức tướng lĩnh rồi người nào trở về đất ấy dốc sức cùng dân xây đất nước. Năm Tân Sửu (41), vua Hán sai Mã Viện làm tướng quân, Lưu Long làm phó tướng cùng với quan lâu thuyền tướng quân là Đoàn Chí đem 20 vạn tinh binh kéo sang đánh Trưng Vương. Một trận quyết chiến tối sầm cả trời đất giữa 20 vạn quân của Mã Viện với dân binh các làng chạ do Trưng Vương thống suất đã diễn ra ở Lăng Bạc (vùng từ Đông Triều đến Yên Phong, Hà Bắc). Quân Mã Viện đóng sẵn trên các triền đất cao giữa vùng Lăng Bạc lầy lội chuẩn bị tiến công Mê Linh thì bị Trưng Vương đem quân tới chặn đánh. Hơn một vạn người Việt đã ngã xuống trong trận đánh bất lợi này. Trưng Vương thu quân về giữ Cấm Khê (Vùng Thạch Thất, Hà Nội và Quốc Oai, Hà Tây). Mã Viện lại kéo tới, một loạt trận huyết chiến nữa lại nổ ra, máu chảy đỏ sông Hồng, sông Đáy. Hơn 2 vạn người Việt nữa lại nằm xuống ở đây. Chiến trường chính chống lại cuộc đàn áp man rợ của Mã Viện là 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân, tổng số dân mới có 91 vạn cả trẻ già lớn bé. Vậy mà chỉ trong mấy trận đánh, hơn 4 vạn người Việt đã bị giết và bị bắt. Quyết chống giặc đến cùng, sức lực của người Việt hầu như dốc cạn để sống mái với bọn lang sói theo ý chí của Trưng Vương. Trong một trận đánh, sau khi phóng những ngọn lao và bắn những mũi tên cuối cùng. Trưng Trắc, Trưng Nhị đã gieo mình xuống dòng Hát Giang. Đó là ngày mùng 6 tháng 2 năm Quý Mão (43).

Biến thiên lãnh thổXem diễn biến cương vực
44 - 554 SCNCương vực Đại Việt

BẮC THUỘC LẦN 2

Sau khi cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng thất bại, nhà Đông Hán lập lại ách thống trị đối với nước ta. Chính sách nô dịch, bóc lột và đồng hóa được đẩy mạnh, có hệ thống và quy mô lớn hơn trước.

Biến thiên lãnh thổXem diễn biến cương vực
Hào kiệt & Danh nhân

Chân Dung Nhân Vật Lịch Sử Tiêu Biểu

Những danh tướng, vua chúa, học giả và anh hùng làm rạng danh non sông đất nước.

Xem tất cả 583 nhân vật
K

Kinh Dương Vương

Năm sinh: 2919? TCN

Kinh Dương Vương (chữ Hán: 涇陽王, 2919 TCN - 2792 TCN) là một nhân vật truyền thuyết, con của Đế Minh, cháu nội của Đế Thừa, cháu 4 đời của Thần Nông. Kinh Dương Vương (tức Lộc Tục) thuộc dòng dõi vua Thần Nông vốn được suy tôn là thủy tổ của người Bách Việt. Dã sử chép Kinh Dương Vương tên húy là Lộc Tục, là người hình thành nhà nước sơ khai đầu tiên vào năm Nhâm Tuất 2879 TCN, đặt quốc hiệu là Xích Quỷ. Lãnh thổ của quốc gia dưới thời Kinh Dương Vương rộng lớn, phía bắc tới sông Dương Tử (cả vùng hồ Động Đình), phía nam tới nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía đông là Đông Hải (một phần của Thái Bình Dương), phía tây là Ba Thục (Tứ Xuyên, Trung Hoa ngày nay). Kinh Dương Vương truyền ngôi cho con là Lạc Long Quân.

Âu Cơ

Âu Cơ

Năm sinh: ?

Âu Cơ (chữ Hán: 嫗姬) là một nhân vật trong truyền thuyết Việt Nam. Cùng với các truyền thuyết vĩ đại về Lạc Long Quân, theo đó Âu Cơ là tổ mẫu của người Việt.

L

Lạc Long Quân

Năm sinh: 2825?TCN

Lạc Long Quân (chữ Hán: 貉龍君, 2825 TCN - ?), tên húy là Sùng Lãm, là một vị vua truyền thuyết của lịch sử Việt Nam.

Hùng Vương

Hùng Vương

Năm sinh: ?

Hùng Vương (chữ Hán: 雄王, chữ Nôm:𤤰雄) là cách gọi dành cho các vị vua nước Văn Lang của người Lạc Việt. Theo truyền thuyết, Hùng Vương thứ I là con trai của Lạc Long Quân, lên ngôi vào năm 2879 trước công nguyên, đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ, truyền đời đến năm 258 trước công nguyên thì bị Thục Phán (An Dương Vương) chiếm mất nước. Truyền thuyết về Hùng Vương được ghi chép lại lần đầu tiên vào cuối đời Trần tại Hồng Bàng Thị truyện trong sách Lĩnh Nam Trích quái; sau đó được sử gia Ngô Sĩ Liên đưa vào Đại Việt Sử kí Toàn thư ở cuối thế kỉ XV.

A

An Dương Vương

Năm sinh: 235? TCN

An Dương Vương (chữ Hán: 安陽王), tên thật là Thục Phán, là một vị vua đã lập nên đất nước Âu Lạc và cũng là vị vua duy nhất cai trị nhà nước này. Âu Lạc là nhà nước thứ hai trong lịch sử Việt Nam sau nhà nước Văn Lang đầu tiên của các vua Hùng.

Triệu Đà

Triệu Đà

Năm sinh: 235? TCN

Triệu Vũ Đế (chữ Hán: 趙武帝, 257 TCN hoặc 235 TCN - 137 TCN), húy Triệu Đà, là vị vua đầu tiên của nước Nam Việt, án ngữ tại Quảng Đông và miền bắc Việt Nam. Ông vốn là người Trung Quốc, quê ở huyện Chân Định, quận Hằng Sơn (ngày nay là huyện Chính Định, tỉnh Hà Bắc), miền Bắc Trung Quốc.

L

Lữ Gia

Năm sinh: 190

Lữ Gia (chữ Hán: 呂嘉, cũng được dịch là Lã Gia, 190 TCN – 11 TCN), tên hiệu là Bảo Công là Thừa tướng của ba đời vua nhà Triệu nước Nam Việt. Ông là người nắm chính trường nước Nam Việt những năm cuối và cuối cùng thất bại trước cuộc xâm lăng Việt Nam của nhà Hán (Trung Quốc). Ông mất ngày 25 tháng 3, các đời sau họ Lữ và họ Lã ở miền Bắc Việt Nam làm giỗ tổ vào ngày 25 tháng 3 âm lịch hàng năm.

Trưng Trắc

Trưng Trắc

Năm sinh: 14

Trưng Trắc (chữ Hán: 徵側, 13 tháng 9 năm 14 - 5 tháng 3 năm 43) là nữ anh hùng dân tộc của người Việt, người đứng đầu cuộc khởi nghĩa chống lại sự đô hộ của nhà Đông Hán trong lịch sử Việt Nam, lập ra một chính quyền riêng của người Việt trong 3 năm với trung ương tại Mê Linh. Vì vậy, bà là nữ quân chủ đầu tiên trong lịch sử Việt Nam cũng như nữ vương duy nhất của chế độ phong kiến Việt Nam (Lý Chiêu Hoàng là vị nữ quân chủ thứ hai và là nữ hoàng duy nhất). Tuy về sau cuộc khởi nghĩa bị quân Hán dưới sự chỉ huy của Mã Viện đánh bại, nhưng trong văn hóa người Việt, khởi nghĩa tượng trưng cho sự quật khởi, phục hưng tinh thần quốc gia.

Khảo Hạch Sử Học Chuẩn Hóa

Luyện Thi Trắc Nghiệm & Kiểm Tra Kiến Thức

Hơn 551 câu hỏi trắc nghiệm được phân tách theo các chuyên đề thi tốt nghiệp THPT, các giai đoạn kháng chiến và biến cố lịch sử quan trọng với luận giải chi tiết sau mỗi câu trả lời.

Chấm điểm tức thì
Giải thích trích nguồn sử liệu
Tự chọn số lượng câu
Góc Khám Phá Lịch Sử Ngẫu Nhiên

Bạn đã tìm hiểu về Bà Triệu?

Nhân vật sinh năm 225. Hàng trăm danh nhân tiền bối và mốc biến thiên lãnh thổ đang chờ bạn khám phá mỗi ngày.