Logo Lịch Sử Việt NamLỊCH SỬ VIỆT NAM
43–544Mốc sự kiện • Cấp 1

Bắc thuộc lần 2

Tóm Tắt Sự Kiện

Bắc thuộc lần thứ hai (chữ Nôm: 北屬吝次二, ngắn gọn: Bắc thuộc lần 2) trong lịch sử Việt Nam kéo dài từ năm 43 đến năm 543. Thời kỳ này bắt đầu khi Mã Viện theo lệnh Hán Quang Vũ Đế nhà Đông Hán đánh chiếm lại bộ Giao Chỉ từ tay Trưng Vương, kéo dài đến khi Lý Bí khởi binh đánh đuổi thứ sử nhà Lương là Tiêu Tư năm 542 rồi lập ra nước Vạn Xuân năm 544.

Bắc thuộc lần thứ hai (chữ Nôm: 北屬吝次二, ngắn gọn: Bắc thuộc lần 2) trong lịch sử Việt Nam kéo dài từ năm 43 đến năm 543. Thời kỳ này bắt đầu khi Mã Viện theo lệnh Hán Quang Vũ Đế nhà Đông Hán đánh chiếm lại bộ Giao Chỉ từ tay Trưng Vương, kéo dài đến khi Lý Bí khởi binh đánh đuổi thứ sử nhà Lương là Tiêu Tư năm 542 rồi lập ra nước Vạn Xuân năm 544.

Thời kỳ Bắc thuộc lần thứ 2 kéo dài khoảng 500 năm.

Các Mốc & Sự Kiện Thuộc Giai Đoạn Này (12)

43

Đông Hán thôn tính Lĩnh Nam

Sau cuộc nổi dậy của Hai Bà Trưng năm 40, Tô Định bỏ chạy, phần đất thuộc bộ Giao Chỉ (gồm 4 quận Hợp Phố (tức Quảng Đông), Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam) tách ra khỏi lãnh thổ nhà Đông Hán, trở thành một vùng đất độc lập. Trưng Trắc và Trưng Nhị lấy đất Mê Linh làm kinh đô, phong chức tước cho những người cùng tham gia khởi nghĩa. Chính quyền của 2 bà tuy còn sơ khai nhưng cũng đã là một nhà nước độc lập, tự chủ. Hai Bà đã miễn thuế cho dân 2 quận Giao Chỉ và Cửu Chân trong 2 năm.

156–160

Khởi nghĩa Chu Đạt

Chu Đạt (chữ Hán: 朱達; 91 - 160) là thủ lĩnh cuộc khởi nghĩa tại Cửu Chân chống ách thống trị nhà Đông Hán.

178–181

Khởi nghĩa Lương Long

Giao Châu dưới thời cai trị của nhà Hán, Thứ sử Chu Ngung thực hiện chính sách rất hà khắc. Tháng Giêng năm 178, Lương Long người quận Giao Chỉ, dấy binh chống lại ách đô hộ của nhà Hán. Người dân các quận Giao Chỉ, Cửu Chân, Hợp Phố, Nhật Nam theo ủng hộ rất đông.

192

Khu Liên khởi nghĩa

Khu Liên hay Sri Mara (tiếng Tamil: திருமாறன், tiếng Thái: ศรีมาระ) là quốc vương đầu tiên của Lâm Ấp. Người ta cho rằng ông lập ra vương quốc Lâm Ấp (sau này là Chăm Pa) năm 192. Ngày tháng năm sinh cũng như mất là không rõ, chỉ biết rằng năm 270, cháu ngoại của ông là Phạm Hùng lên làm vua.

203

Đổi tên Giao Châu

Năm 200, Tào Tháo đang nắm vua Hiến Đế ở Hứa Xương đánh bại được đối thủ quân phiệt lớn nhất là Viên Thiệu trong trận quyết định ở Quan Độ. Nắm quyền chủ động ở Trung Nguyên, Tào Tháo bắt đầu quan tâm tới miền nam. Năm 201, Tào Tháo nhân danh Hiến Đế cử Trương Tân sang làm thứ sử bộ Giao Chỉ.

229

Đông Ngô cai trị

Thời Tam Quốc và nhà họ Sỹ Năm 207, Tào Tháo can thiệp vào Giao Châu, sai người đưa thư phong Sĩ Nhiếp làm Tuy Nam trung lang tướng, cho quản lý cả bảy quận của Giao Châu là Nam Hải, Uất Lâm, Thương Ngô, Hợp Phố, Giao Chỉ, Cửu Chân và Nhật Nam và kiêm thái thú quận Giao Chỉ như trước. Trong khi đó hai thủ hạ của Lưu Biểu là Ngô Cự và Lại Cung lại bất hòa. Hai người chưa tới nơi trấn trị đã trở mặt đánh nhau. Ngô Cự đánh đuổi Lại Cung khiến Lại Cung chạy về quận Linh Lăng (thuộc Kinh Châu), còn Ngô Cự tới được trị sở Thương Ngô.

246 - 248

Khởi nghĩa Bà Triệu

Bà Triệu (chữ Hán: 趙婆), còn được gọi là Triệu Ẩu, Triệu Trinh Nương, Triệu Thị Trinh, Triệu Quốc Trinh (8 tháng 11 năm 226 – 4 tháng 4 năm 248), là một trong những vị anh hùng dân tộc trong lịch sử Việt Nam.

280

Nhà Tấn cai trị

Về phần Giao Châu, Tôn Quyền trực tiếp giành lấy quyền quản lý. Năm 210, Tôn Quyền cho Bộ Chất sang làm Thứ sử Giao Châu. Sĩ Nhiếp dù về phe Tào Tháo trước đó nhưng biết không thể đấu lại Tôn Quyền ở gần hơn nên buộc phải thừa nhận ngôi vị của Bộ Trắc.

420

Nhà Lưu Tống cai trị

Hoàng đế khai quốc Lưu Dụ xuất thân từ trong quân đội, thuở nhỏ gia đình nghèo. Khi nhà Đông Tấn rơi vào thời kỳ xuống dốc, dân nổi lên làm loạn khắp nơi, nội bộ Triều đình đấu đá lẫn nhau làm tê liệt mọi hoạt động trong nước. Năm 402, một viên tướng nhà Đông Tấn là Hoàn Huyền khởi binh soán ngôi, lấy quốc hiệu là Sở. Lưu Dụ cùng Lưu Nghị khởi binh cần vương, cuối cùng tiêu diệt được lực lượng Hoàn Huyền. Sau đó Lưu Dụ xuất quân Nam chinh Bắc phạt, ổn định tình hình. Cuối cùng, Lưu Dụ tấn công tiêu diệt lực lượng của Lưu Nghị và đánh đuổi các tôn thất nhà Đông Tấn là Tư Mã Hưu Chi, Tư Mã Sở Chi. Không còn trở ngại, Lưu Dụ ép Tấn Cung Đế nhường ngôi, lập ra triều Tống.

468 - 485

Khởi nghĩa Lý Trường Nhân

Cuối thời nhà Hán, Trung Quốc đại loạn, quần hùng nổi lên đánh giết lẫn nhau, gây thành cục diện Tam Quốc. Nhà Tấn thống nhất đất nước nhưng không duy trì được lâu. Cục diện phân tranh Nam – Bắc triều xuất hiện, kéo dài từ năm 420 đến năm 589 với ba trên bốn triều đại của Nam triều (Tống, Tề, Lương, Trần) trực tiếp cai trị nước ta.

479

Nhà Nam Tề cai trị

Nam Tề Cao Đế (chữ Hán: 南齊高帝; 427–482), tên húy là Tiêu Đạo Thành, tên tự Thiệu Bá, tiểu húy Đấu Tương, là hoàng đế sáng lập nên triều đại Nam Tề thời Nam-Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc. Ông từng là tướng nhà Lưu Tống trong thời gian trị vì của hai vị hoàng đế Minh Đế và Hậu Phế Đế. Đến năm 477, do lo sợ sẽ bị Hậu Phế Đế sát hại, ông ám sát Hậu Phế Đế và đoạt lấy quyền lực, đến năm 479 thì đoạt ngôi nhà Lưu Tống.

502

Nhà Lương cai trị

Lương Vũ Đế (chữ Hán: 梁武帝; 464 – 549), tên húy là Tiêu Diễn, tự là Thúc Đạt, tên khi còn nhỏ Luyện Nhi, là vị Hoàng đế khai quốc của triều Lương thời Nam-Bắc triều trong lịch sử Trung Quốc. Thời kỳ ông trị vì là một trong những giai đoạn ổn định nhất và thịnh vượng nhất của Nam triều.