Logo Lịch Sử Việt NamLỊCH SỬ VIỆT NAM
1442Mốc sự kiện • Cấp 2

Vụ án Lệ Chi viên

Vụ án Lệ Chi viên
Tóm Tắt Sự Kiện

Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai sinh năm 1380 ở làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, Hà Sơn Bình (nay là Thường Tín – Hà Nội). Ông đỗ Tiến sĩ năm 1400, ra làm quan dưới thời nhà Hồ. Năm 1407, nhà Hồ mất, ông bị bắt giam lỏng ở thành Đông Quan – Hà Nội, giặc nhà Minh tìm cách mua chuộc và dụ dỗ ông nhưng ông từ chối. Năm 1416 ông tham gia Hội thề Lũng Nhai cùng Lê Lợi tổ chức khởi nghĩa Lam Sơn, dâng Bình Ngô sách (kế diệt giặc Minh). Chiến thắng nhà Minh, Nguyễn Trãi thảo Bình Ngô đại cáo tổng kết dựng nước và giữ nước, có ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập được hậu thế xem là “Thiên cổ hùng văn”…

Nguyễn Trãi hiệu là Ức Trai sinh năm 1380 ở làng Nhị Khê, huyện Thượng Phúc, Hà Sơn Bình (nay là Thường Tín – Hà Nội). Ông đỗ Tiến sĩ năm 1400, ra làm quan dưới thời nhà Hồ. Năm 1407, nhà Hồ mất, ông bị bắt giam lỏng ở thành Đông Quan – Hà Nội, giặc nhà Minh tìm cách mua chuộc và dụ dỗ ông nhưng ông từ chối. Năm 1416 ông tham gia Hội thề Lũng Nhai cùng Lê Lợi tổ chức khởi nghĩa Lam Sơn, dâng Bình Ngô sách (kế diệt giặc Minh). Chiến thắng nhà Minh, Nguyễn Trãi thảo Bình Ngô đại cáo tổng kết dựng nước và giữ nước, có ý nghĩa như một bản tuyên ngôn độc lập được hậu thế xem là “Thiên cổ hùng văn”…

Trong những năm 1440 – 1442, Nguyễn Trãi về sống an nhàn tại Côn Sơn với cuộc sống thanh bạch giản dị nhưng vẫn canh cánh bên lòng việc nước. Trong khi đó, vợ ông là bà Nguyễn Thị Lộ vẫn được giữ lại trong triều với chức Lễ nghi học sĩ (dạy các cung tần mỹ nữ trong triều).

Ức Trai di tập của Dương Bá Cung (1795 - 1868) là nguồn tư liệu đầu tiên công bố cáo buộc đối với Thần phi Nguyễn Thị Anh. Thời gian này các phi tần của vua Lê Thái Tông đến 16, 17 tuổi bắt đầu có con, cuộc tranh chấp ngôi Đông cung Thái tử cho con và ngôi Chính cung cho bản thân mình diễn ra quyết liệt. Trong hàng phi tần có ba người được vua Lê Thái Tông yêu hơn cả, là Dương Thị Bí, Nguyễn Thị Anh và Ngô Thị Ngọc Dao. Dương Thị Bí vừa sinh hoàng nam Nghi Dân, đứa con trai đầu lòng của vua, đến tháng 1-1440 (sau 3 tháng) thì Nghi Dân được phong Thái tử, Dương Thị Bí được phong Thần phi. Cuối năm 1440, Nguyễn Thị Anh có thai, cuộc tranh chấp trở nên quyết liệt, các phi tần tranh chấp nhau thì các cung nữ hầu hạ các phi tần cũng phe cánh xung đột nhau. Tháng 7-1441, Nguyễn Thị Anh sinh hoàng tử Bang Cơ; tháng 12-1441 Bang Cơ được phong làm Thái tử, Nguyễn Thị Anh được phong làm Thần phi. Nghi Dân bị giáng xuống làm Lạng Sơn Vương, Dương Thị Bí bị giáng xuống làm Thứ phụ (một người phụ nữ bình thường không có chức tước gì). Khi đó, Ngô Thị Ngọc Dao bắt đầu mang thai và có tin đồn đại trong triều là Ngọc Dao nằm mộng thấy “Kim đồng thiên tử” giáng sinh, tất sinh quý tử. Nguyễn Thị Anh tìm cách trừ khử Ngô Thị Ngọc Dao. Nghe lời Nguyễn Thị Anh gièm pha, vua Lê quyết định đem Ngọc Dao đi đày ở vùng đất xa kinh thành.

Lúc bấy giờ, có nhiều lời đồn đại rằng Bang Cơ không phải là con của vua Thái Tông, vì Nguyễn Thị Anh đã mang thai trước khi vào cung.

Việc này ngoài vợ chồng Nguyễn Trãi, Đinh Phúc và Đinh Thắng (là người ghi chép những chuyện cụ thể ở nội cung), còn có vài đại thần khác có thể đã biết như Thái sư Đinh Liệt, Thái uý Trịnh (Lê) Khả và con là Trịnh (Lê) Quát (bởi được ban quốc tính), Tư khấu Trịnh Khắc Phục và con là Phò mã Đô uý Trịnh Bá Nhai. Chính cái biết rõ này là mầm mống tai vạ về sau cho Nguyễn Trãi và tộc họ của ông cùng các vị trên.

Lúc này Nguyễn Trãi được mời từ Côn Sơn ra kinh đô để làm Giám khảo khoa thi Tiến sĩ năm 1442. Có mặt tại triều đình trước việc xử lý bất công với Tiệp dư Ngô Thị Ngọc Dao, ông không thể làm ngơ. Để bảo vệ đứa trẻ còn trong bụng mẹ và cứu một người đàn bà vô tội, ông đề nghị vua xem xét lại việc này vì lý do không chính đáng. Vua Lê Thái Tông nghe theo, không bắt Ngô Thị Ngọc Dao đi đày mà trục xuất ra khỏi hoàng cung. Bà Nguyễn Thị Lộ và Nguyễn Trãi che chở Ngọc Dao, giúp bà an toàn “mẹ tròn con vuông”. Ngày 20-7 năm Nhâm Tuất (1442), Ngọc Dao sinh con trai, nghe tin vua Lê Thái Tông rất mừng, đặt tên con là Tư Thành (tức Lê Thánh Tông sau này). Tin này làm cho Thần phi Nguyễn Thị Anh rất lo lắng và căm hờn Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ. Nguyễn Thị Anh rắp tâm trả thù và tìm cách trừ hậu họa cho con mình nhưng chưa tiện vì Lê Thái Tông đi vắng.

Ngày 27-7 âm lịch (1442), Lê Thái Tông xa giá rời kinh thành, đi lên miền đông duyệt binh tại Chí Linh. Chí Linh gần Côn Sơn, Nguyễn Trãi có mặt ở đó. Côn Sơn là một thắng cảnh đẹp vua chúa thường tới du ngoạn. Sau khi ở thăm Côn Sơn, Lê Thái Tông cùng đoàn hộ giá đi đường sông về kinh thành, bà Nguyễn Thị Lộ vẫn đi theo đoàn hộ giá. Ngày 4-8 âm lịch (1442) vua về đến Trại Vải bên bờ sông Thiên Đức (sông Đuống) thì ở lại. Trại Vải tức Lệ Chi Viên ở thôn Đại Lại nay thuộc xã Tân Lập, huyện Gia Bình (Bắc Ninh). Vua Lê Thái Tông lên cơn sốt nặng và mất ngay đêm đó, tại nơi ấy có mặt cả bà Nguyễn Thị Lộ cùng các phi tần, cung nữ. Vua chết, Thái tử còn nhỏ tuổi thì lâm thời mọi việc đều do mẹ Thái tử quyết định, đó là Thần phi Nguyễn Thị Anh.

Sau khi vua mất, Bang Cơ lên ngôi, Nguyễn Thị Anh được làm thái hậu, nắm quyền trị nước. Nguyễn Trãi không thể biện bạch cho sự oan uổng của mình và phải chịu án tru di tam tộc.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, ngày 16-8 năm Nhâm Tuất (19-9-1442) Nguyễn Trãi, Nguyễn Thị Lộ cùng gia đình thân thuộc đều bị giết. Tháng 9, ngày 9, (năm 1442), 2 hoạn quan Đinh Phúc, Đinh Thắng cũng phải chịu chung tội chết, vì khi Nguyễn Trãi sắp bị hành hình có nói là hối không nghe lời của Thắng và Phúc.

Có lẽ hai hoạn quan Đinh Thắng và Đinh Phúc đã khuyên Nguyễn Trãi sớm nói cho vua biết thái tử không phải con vua, nhưng Nguyễn Trãi đã chần chừ không thực hiện. Sau khi hoàng thái hậu Nguyễn Thị Anh giết Đinh Phúc, Đinh Thắng, lại tiếp tục bắt giam Thái sư Đinh Liệt (Đại Việt sử ký toàn thư không nêu lý do)

Như vậy, những người có lương tri và những người đi hộ giá theo hầu Lê Thái Tông trong cuộc tuần du biết rõ cái chết của vua, nhưng không ai dám nói rõ sự thật vì sợ khép vào tội đồng lõa giết vua, còn Nguyễn Trãi có bào chữa cũng không thể được, vạch mặt Nguyễn Thị Anh và bọn nịnh thần chỉ làm liên lụy thêm người khác.

Chính bởi thân thế của Lê Nhân Tông có phần "không chính" nên sau này, năm Kỷ Mão (1459), con trưởng của vua Thái Tông là Lê Nghi Dân lấy lý do để làm binh biến giết hai mẹ con Nguyễn Thị Anh. Trong bài chiếu lên ngôi, Nghi Dân nói rõ: "... Diên Ninh [Nhân Tông] tự biết mình không phải là con của tiên đế [Thái Tông]..."

Tháng 8 năm 1464, sau 22 năm, vua Lê Thánh Tông đã xuống chiếu chiêu tuyết cho Nguyễn Trãi, truy tặng ông tước hiệu là Tán Trù bá, bãi bỏ lệnh truy sát của triều đình với gia quyến Nguyễn Trãi và ra lệnh bổ dụng con cháu ông làm quan.

Nỗi oan của Nguyễn Trãi coi như đã được giải, nhưng nỗi oan của nữ danh nhân Nguyễn Thị Lộ thì vẫn còn đó. Vì vậy, nhiều cuộc khảo cứu và tọa đàm khoa học đã được tổ chức nhằm minh oan cho bà.

Dựa vào những kết quả thu nhặt được, một số nhà nghiên cứu, dưới sự chủ biên của nhà giáo Hoàng Ðạo Chúc, đã biên soạn thành cuốn “Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ với thảm án Lệ Chi Viên” (xuất bản năm 2004). Sau hơn 560 năm, vụ án “Lệ Chi viên” mới chính thức khép lại với sự minh oan trọn vẹn nhất dành cho bà Nguyễn Thị Lộ.

Đọc lại vụ án Lệ Chi Viên xin dẫn câu kết của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng nói về người anh hùng của dân tộc Nguyễn Trãi trên Báo Nhân Dân số 3099, ngày 19-9-1962: “Đối với triều đình nhà Lê lúc bấy giờ, sau khi bốn biển đã yên lặng, Nguyễn Trãi nhân nghĩa quá, trung thực quá, thanh liêm quá! Nguồn gốc sâu xa của thảm án vô cùng đau thương của Nguyễn Trãi bị tru di ba họ là ở đó”.

Tư Liệu & Hình Ảnh Lịch Sử

Tượng đài Lễ nghi học sĩ Nguyễn Thị Lộ tại khu di tích lịch sử văn hóa Lệ Chi Viên (huyện Gia Bình, tỉnh Bắc Ninh