Khởi nghĩa Trần Tuân

Nhà Hậu Lê sang thế kỷ 16 bắt đầu suy yếu. Vua Lê Uy Mục (đời vua thứ 7) ở ngôi từ năm 1505 đến năm 1509, đêm nào cũng cùng cung phi vui đùa uống rượu quá độ, khi rượu say thì giết cung phi. Năm 1512, đại hạn, trong nước đói to. Năm 1517, dân chết đói, thây (xác chết) nằm chồng chất lên nhau. Nhiều huyện thuộc hai trấn Hải Dương và Kinh Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang), nạn đói càng dữ dội hơn.
Nhà Hậu Lê sang thế kỷ 16 bắt đầu suy yếu. Vua Lê Uy Mục (đời vua thứ 7) ở ngôi từ năm 1505 đến năm 1509, đêm nào cũng cùng cung phi vui đùa uống rượu quá độ, khi rượu say thì giết cung phi. Năm 1512, đại hạn, trong nước đói to. Năm 1517, dân chết đói, thây (xác chết) nằm chồng chất lên nhau. Nhiều huyện thuộc hai trấn Hải Dương và Kinh Bắc (Bắc Ninh, Bắc Giang), nạn đói càng dữ dội hơn.
Lê Tương Dực (Lê Oanh (黎瀠), đời vua thứ 8), con trai thứ hai của Kiến vương Lê Tân, là cháu nội của Lê Thánh Tông, dưới thời Lê Hiến Tông được ban phong hiệu Giản Tu công (簡修公). Khi Lê Uy Mục nghi ngờ tôn thất, bắt giam ông trong ngục, ông đã tìm kế thoát ra, gặp được Nghĩa quận công Nguyễn Văn Lang hiện đang ẩn dật tại Lam Kinh. Hai người tập hợp lực lượng, thảo chiếu dấy binh và tiến vào Đông Kinh vào năm 1509. Vua Uy Mục phải uống thuốc độc tự vẫn. Lê Tuơng Dực lên ngôi, đặt niên hiệu là Hồng Thuận (洪順), bắt đầu thời kỳ trung hưng ngắn ngủi sau sự náo loạn dưới thời Uy Mục.
Trong những năm đầu cầm quyền, Lê Tương Dực cũng có vài đóng góp thể hiện sự cố gắng vực dậy đất nước đã suy tàn, nhất là trong lĩnh vực khoa cử. Năm 1511, ông tổ chức kỳ thi Hội, đến kỳ thi Đình thì ông đích thân ra đề văn hỏi về đạo trị quốc. Ông cho trùng tu Quốc Tử Giám, dựng lại bia tiến sĩ tỏ rõ sự khuyến khích hiền tài. Đông các Đại học sĩ Đỗ Nhạc đã soạn bài ký ở Quốc Tử giám ca ngợi công đức của Lê Tương Dực, đánh giá là người đủ tài đức để tiếp nối cơ nghiệp của Thuần Hoàng khi xưa. Bấy giờ, Lại bộ tả thị lang Lương Đắc Bằng dân kế trị nước, đại ý khuyên rằng sửa sang văn chiếu điển lệ; tỏ lòng hiếu để cho người trong nước thuận theo; rời xa sắc dục; không dùng lời nịnh; không tùy tiện trao thưởng quan tước; cân nhắc bổ nhiệm quan lại chân chính công bằng; tiết kiệm chi tiêu để khuyến khích sự liêm chính; khen người tiết nghĩa để trọng đạo cương thường; cấm hối hộ bỏ trừng thói tham ô; sửa sang võ bị để thủ thế hùng cường; lựa chọn ngôn quan để trọng dụng lời thật; nới nhẹ việc phu để xót thương dân chúng; hiệu lệnh tín thực để nắm ý chí thiên hạ; luật pháp chế độ phải thận trọng để mở nền thịnh trị thái bình. Bấy giờ Tương Dực Đế đều cho là lời hay, luôn nghe theo, chẳng mấy chốc mở ra thời kỳ trung hưng thịnh vượng dưới thời cai trị của ông.
Năm 1510, Tương Dực sai quan Binh bộ Thượng thư là Vũ Quỳnh soạn bộ Đại Việt thông giám thông khảo, gọi tắt là Đại Việt thông giám hay Việt giám thông khảo. Đại Việt thông giám gồm 26 quyển, chia thành Ngoại kỷ chép từ Hồng Bàng đến hết nhà Ngô, Bản kỷ từ Đinh Tiên Hoàng đến đầu thời Lê Thái Tổ. Tương Dực còn sai Lê Tung soạn bài tổng luận về bộ sử ấy. Theo Phan Huy Chú, bộ sách này được Lê Nại đánh giá là quy mô và đúng với kinh, trúng với sử.
Nhưng chẳng bao lâu sau ông lại sống sa đọa như Uy Mục trước đây. Đặc biệt, năm 1516, Tương Dực sai Vũ Như Tô xây dựng cung điện 100 nóc, lại xây công trình quy mô lớn là Cửu Trùng đài, làm nhiều cung điện quy mô hơn xung quanh. Cũng vì vậy, tài nguyên đất nước dần suy kiệt, người lao động bị sai đi xây dựng kiệt sức
Khởi nghĩa của Trần Tuân
Trần Tuân (陳珣, ?-1511) là thủ lĩnh một cuộc nổi dậy chống triều đình cuối thời Lê sơ trong lịch sử Việt Nam.
Theo Đại Việt thông sử, Trần Tuân là người xã Quang Bị, huyện Bất Bạt thuộc Sơn Tây cũ, nay là huyện Ba Vì, Hà Nội, Việt Nam.
Trần Tuân sinh ra trong gia đình có truyền thống khoa bảng. Ông tổ 4 đời của Trần Tuân là Trần Văn Huy (tên thật là Trần Nguyên Trừng, hậu duệ các vua nhà Trần, không phải dòng dõi Trần Hưng Đạo như có thuyết nêu), đỗ tiến sĩ trong niên hiệu Thái Hòa đời Lê Nhân Tông. Ông nội Trần Tuân là Trần Cẩn đỗ tiến sĩ thời Lê Thánh Tông, làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lại. Dòng tộc Trần Tuân có mối quan hệ với Hoàng hậu Trần Thị Tùng (vợ Lê Uy Mục), người làng Nhân Mục Môn, nên được Lê Uy Mục ưu ái (sử sách có ghi Lê Uy Mục chỉ tin dùng ngoại thích bên mẹ và bên vợ), khiến một số thế lực khác trong Triều đình căm tức chống lại. Khi Lê Uy Mục bị Giản Tu Công Lê Oanh (tức Lê Tương Dực) lật đổ cuối năm Đoan Khánh thứ 5 (1509) với sự ủng hộ của các gia tộc đại thần họ Nguyễn (Nguyễn Văn Lang, Nguyễn Hoằng Dụ) và họ Trịnh (Trịnh Duy Đại, Trịnh Duy Sản), Hoàng hậu Trần Thị Tùng phải chạy trốn đến chùa Hoàng Mai và tự vẫn ở đây. Toàn bộ ngoại thích họ Trần của Hoàng hậu bị truy sát phải chạy trốn, nhiều người phải đổi cả họ tên (những người còn lại trong gia tộc của Trần Tuân đổi sang họ Đặng và toả đi lánh nạn các nơi). Trần Tuân là một võ quan thuộc phe ngoại thích của Hoàng hậu vì chuyện này nên mới nổi dậy chống lại Triều đình của vị vua mới Lê Tương Dực ngay từ đầu năm 1510, đến năm 1511 mới tiến về uy hiếp Kinh thành.
Theo mô tả của Đại Việt sử kí toàn thư, Trần Tuân là người có "tính khí hung hãn".
Trần Tuân cũng tập hợp lực lượng ở vùng rừng núi Hưng Hóa, chiêu mộ được vài ngàn người, cắt đặt ngôi thứ. Năm 1511, ông cùng bộ tướng Nguyễn Nghiêm chính thức khởi binh chống triều đình tại Sơn Tây. Ở nhiều nơi khác có khởi nghĩa của:
Phùng Chương ở Tam Đảo
Lê Hy ở Nghệ An nổi dậy khởi nghĩa cùng Trịnh Hưng phát triển ra Thanh Hóa
Trần Cảo ở Đông Triều (Quảng Ninh)
Uy hiếp kinh thành
Nhân dân đi theo Trần Tuân khá đông, tụ tập hàng vạn người. Ông mang quân đến Từ Liêm uy hiếp kinh thành. Vua Tương Dực sai Trịnh Duy Sản, Nguyễn Văn Lang mang quân ra đánh, nhưng hai tướng bị Trần Tuân đánh bại, phải rút về Đông Ngạc và Nhật Chiêu.
Nguyễn Văn Lang sai tập trung thợ ở các xưởng vũ khí của Bộ Công, bày kỳ binh để làm thanh thế tại Đông Hà bảo vệ cho kinh thành, nhưng đến đêm quân triều đình sợ thế Trần Tuân đều bỏ chạy.
Lê Tương Dực sai Minh Luân bá Lê Niệm và thái giám Lê Văn Huy mang lực sĩ 2 ty Hải Thanh và Hà Thanh chèo thuyền nhẹ ra Từ Liêm dò xét tình hình. Trần Tuân cho quân đốt phá phố xá. Lê Niệm và Lê Văn Huy đến chợ An Gia thấy phố xá bị cháy bèn trở về báo cho vua Tương Dực. Cả kinh thành chấn động vì Trần Tuân đã áp sát sắp tiến vào.
Thất bại
Lúc đó Trịnh Duy Sản bại binh chỉ còn 30 người. Duy Sản tập hợp tàn quân, cùng quân sĩ thề cùng nhau đánh giặc, xé áo làm dấu hiệu, rồi nhân lúc chiều tối chia nhau lẻn đến trại của Trần Tuân. Ông vừa đánh thắng quân triều đình nên chủ quan không phòng bị. Lúc đó Trần Tuân mặc áo đỏ ngồi trên giường. Duy Sản cùng 30 người đột kích vào thẳng trong trại, đến nơi Trần Tuân ngồi, đâm chết Trần Tuân.
Các thủ hạ của ông ở quanh trại vẫn chưa biết ông bị giết, vẫn đóng đồn như trước. Giết được Trần Tuân, Trịnh Duy Sản sai quân đốt 3 tiếng pháo làm hiệu, cánh quân đến tiếp ứng của Nguyễn Văn Lang xông tới đánh giết. Quân Trần Tuân tan vỡ, chạy tới xã Thụy Hương, Tảo Động (Từ Liêm, Hà nội), bị giết và chết đuối rất nhiều.
Bộ tướng của ông là Nguyễn Nghiêm rút chạy lên Sơn Tây rồi Hưng Hóa. Sang đầu năm 1512, quân triều đình truy kích đến nơi, các thủ hạ của ông đều được nhận hàng.
Không rõ Trần Tuân bao nhiêu tuổi. Dòng dõi của ông dời đến xã Yên Quyết Thượng huyện Từ Liêm và đổi sang họ khác.
