Chiến dịch Cao Bắc Lạng

Hình ảnh bác hồ và các quân dân trong thời kỳ này
Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng là một chiến dịch tấn công của Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đánh vào tuyến phòng thủ đường 4 và lực lượng chiếm đóng của Pháp ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn nhằm tiêu hao sinh lực và triệt đường tiếp tế của thực dân Pháp và tay sai.
Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng là một chiến dịch tấn công của Lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam đánh vào tuyến phòng thủ đường 4 và lực lượng chiếm đóng của Pháp ở Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn nhằm tiêu hao sinh lực và triệt đường tiếp tế của thực dân Pháp và tay sai.
Bối cảnh
Đường số 4 là tuyến đường giao thông quan trọng bậc nhất của vùng chiến lược Cao – Bắc – Lạng và đông bắc Bắc Bộ, dài 420 km dọc theo biên giới Việt – Trung. Địa hình hiểm trở, núi cao, rừng rậm hai bên đường, có rất nhiều suối và ba con sông lớn: Kỳ Cùng, Bắc Giang và Bằng Giang chảy theo hướng tây bắc – đông nam cùng với hướng của đường 4 nên phải có những cây cầu lớn để vượt qua như cầu Bản Trại, cầu Pò Lọi... Xen giữa vùng núi lại có những cánh đồng lúa khá màu mỡ như Bắc Bắc, Phúc Thái,...
Pháp
Sau chiến dịch Việt Bắc 1947, Pháp tăng cường chiếm đóng trên đường 4 để thực hiện phong toả biên giới, cô lập Việt Minh. Pháp đã chiếm đóng trên 80 vị trí lớn, nhỏ nhưng cũng mới chỉ kiểm soát được những đoạn chính.
Để đảm bảo tính độc lập chiến đấu trong một khoảng thời gian nhất định chờ tiếp viện, Pháp chia khu Biên Thuỳ (Cao – Lạng và Đông Bắc) ra thành hai phân khu và các tiểu khu: Phân khu Bắc gồm sáu tiểu khu: Bắc Kạn, Nguyên Bình, Cao Bằng, An Lai, Đông Khê, Thất Khê. Phân khu Đông Bắc gồm 4 tiểu khu: Lạng Sơn, Tiên Yên – Móng Cái, Lộc Bình và An Châu. Những vị trí quan trọng tỉ lệ lính Âu – Phi chiếm 60%, còn phần lớn lực lượng ngụy chiếm 70% đến 80% trong các tiểu khu. Bước sang năm 1949, Pháp tăng cường quân lực cho các vị trí quan trọng (Lộc Bình tập trung 600 quân, Lạng Sơn tăng thêm 200 lính Maroc, v.v...). Đồng thời thực hiện thay quân Pháp, Algérie cho quân ngụy ở một số cứ điểm, thuyên chuyển quân trên dọc đường 4 và khu vực Lạng Sơn về Đình Lập, An Châu. Tăng cường máy bay bắn phá những nơi nghi có quân Việt Minh để phá công tác chuẩn bị. Xây thêm lô cốt cố thủ, đào thêm hào, rào kẽm gai, chông mìn và mở các cuộc càn quét ra xung quanh các cứ điểm, tăng cường công tác bảo vệ vận chuyển trên dọc đường số 4. Pháp đã kết hợp giữa kìm kẹp với mua chuộc, lập "xứ Nùng tự trị", để chia rẽ và lợi dụng các dân tộc thiểu số chống lại Việt Minh.
Việt Minh
Về phía Việt Minh, sau năm tác chiến 1948, trình độ bộ đội tiến bộ rõ rệt, thế cầm cự ngày càng có lợi. Bên cạnh đó Quân giải phóng Trung Quốc đang ồ ạt tiến xuống Hoa Nam. Trung ương Đảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch ra lời kêu gọi toàn quốc chuẩn bị cho "Tổng phản công".
Để mở đà chiến thắng cho năm 1949, từng bước phá kế hoạch phong tỏa biên giới của quân đội Pháp. Theo chỉ thị Đại tướng, Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp, Liên khu I quyết định mở chiến dịch Cao – Lạng và Đông Bắc.
Hướng chính là đường số 4 từ Cao Bằng đến Lạng Sơn (dài gần 100 km). Hướng thứ yếu là Đông Bắc.
Diễn biến
Đợt 1
Trước đó, ngày 4 tháng 3, chiến dịch Đông Bắc 2 nổ súng bằng trận phục kích diệt hoàn toàn đoàn xe của Pháp tại Điền Xá và trận tập kích đồn Ba San (đông bắc Lạng Sơn), thu hút và đánh lạc hướng quân Pháp.
16 giờ ngày 15 tháng 3, bộ đội Đông Khê chặn đánh đoàn xe vận tải 96 chiếc từ Cao Bằng xuống khiến thiệt hại một số, phải dừng lại ở Đông Khê.
24 giờ 30 ngày 15 tháng 3, Việt Minh tiến công Na Sầm mở màn chiến dịch. Tuy không diệt được đồn nhưng đã tạo điều kiện cho quân dân huyện Thoát Lãng phát động chiến tranh du kích. 1 giờ ngày 16 tháng 3, quân Việt Minh tiêu diệt đồn Bản Trại và Đèo Khách, phá sập cầu Bản Trại, đồng thời đánh phá vị trí Đèo Bông Lau và Thất Khê.
Đại tá Vi-ke chỉ huy liên khu biên giới phải đi Tiên Yên thu thập cơ giới và công binh, đến 31 tháng 3, chúng mới chữa xong cầu Bản Trại.
Hai ngày 20 và 21 tháng 3, chủ lực Việt MInh chuyển sang đánh đồn Bản Ne và Nà Lèng làm cho các vị trí Pò Mã, Pò Piao (đông bắc Thất Khê) lung lay. Ngày 30 tháng 3 và 3 tháng 4 quân Việt Minh tiến đánh thị xã Lạng Sơn và trường bay Mai Pha. Ngày 10 tháng 4, phục kích tiêu diệt đoàn xe tiếp tế trên đường Đông Khê – Phục Hoà. Ngày 14 tháng. 4, tiến công thị xã Cao Bằng.
Quân Pháp lúng túng đối phó khắp nơi, phải rút bỏ vị trí Bình Nhi và Nà Mần. Chiến tranh du kích cũng phát triển từ Thoát Lãng đến Tràng Định, đánh trả Pháp trên đường số 4 và vây hãm các đồn bốt nhỏ, ngày nào phía Pháp cũng bị thương vong, cơ giới bị phá huỷ.
Ngày 24 tháng 4, đợt 1 của chiến dịch kết thúc.
Quân Pháp thiết lập lại đồn Bản Trại, tăng cường công sự, lô cốt, vật cản và phương tiện ở các vị trí, quyết cố thủ chiếm đóng vùng Biên Thuỳ.
Phía Việt Minh, phong trào chiến tranh du kích phát triển rộng rãi trên các huyện: Tràng Định, Thoát Lãng, Văn Uyên, Cao Lộc. Khu tự do Ba Son được mở rộng về phía Bản Xam, Nà Lèng, Bảo Lam hình thành thế bao vây thị xã Lạng Sơn. Khu Chi Lăng cũng trở thành địa bàn hoạt động của quân Việt Minh.
Đợt 2
Ngày 25 tháng 4, Việt Minh thực hiện trận phục kích lớn đánh đoàn xe 114 chiếc trên đoạn Đèo Bông Lau – Lũng Phầy (15 km), phá huỷ 53 xe vận tải, diệt và bắt hơn 500 lính Âu – Phi, bắn bị thương hai máy bay, phá tan đồn Dốc Na (Lũng Phầy mới).
Ngày 27 tháng 4, bộ đội Cao Bằng tiêu diệt đồn Bản Pát trên đường Cao Bằng – Trà Lĩnh. Chiến tranh du kích được Việt Minh phát động ở khắp nơi. Các huyện Thoát Lãng, Tràng Định, Văn Uyên, Cao Lộc ngày nào cũng có trận phục kích nhỏ, đánh địa lôi chim sẻ, quấy rối gây cho Pháp nhiều thiệt hại. Tinh thần ngày càng trở nên hoang mang. Ngày 30 tháng 4, quân Pháp buộc phải rút khỏi đồn Pò Mã và Pò Piao. Việt Minh quyết định kết thúc chiến dịch.
Kết quả
Bộ đội Việt Minh tiêu diệt 4 vị trí: Ba Son, Bản Trại, Đèo Khách, Bản Pát; bức rút 6 vị trí: Lũng Phầy, Bình Nhi, Pò Mã, Pò Piao, Chiềng Mân, Nà Mần; đánh tiêu hao 9 vị trí: Dốc Na, Bông Lau, Nà Lèng, Na Sầm, Thất Khê, Bản Ne, Lũng Vài, Chấp Chịu, Chợ Cáy. Việt Minh chiến thắng khi giải phóng được Bắc Kạn.
Việt Minh đã diệt 665 (có hai quan ba, một quan hai, 24 sĩ quan), làm bị thương 568 (có hai quan ba, một quan một và chín sĩ quan), bắt 160 quân Âu – Phi và lính người Việt. Ngoài ra còn phá huỷ 80 xe cơ giới, đánh hỏng 18 chiếc khác; đốt ba kho và 498 thùng xăng; phá huỷ hai kho lương thực, hai kho vũ khí, bắn trọng thương hai máy bay, phá huỷ 12 cầu, cắt 43.747 mét dây điện thoại, phá 24 quãng đường với 1324 hố chữ nhật.
Số vật tư chiến tranh thu được là: 15 đại liên, 4 trọng liên 12,7 mm, 18 trung liên, 11 súng cối, 2 súng chống cơ giới Pi-át và nhiều vũ khí đạn dược, quân trang quân dụng.
Bên Việt Minh hy sinh 50 người (có ba dân thường), bị thương 150 người và hỏng một súng máy.
