Logo Lịch Sử Việt NamLỊCH SỬ VIỆT NAM
(1545 – 1788)Mốc sự kiện • Cấp 2

Các chúa Trịnh ở Đàng ngoài

Các chúa Trịnh ở Đàng ngoài
Tóm Tắt Sự Kiện

(tranh vẽ đám rước chúa Trịnh xuất hành) Đàng Ngoài (sử liệu chữ Hán: 北河 Bắc Hà) hay An Nam, Vương quốc Đông Kinh (Tunquin, Tonqueen, Tonquin, Tonkin, Ton Kin...) là tên gọi vùng lãnh thổ Đại Việt kiểm soát bởi Chúa Trịnh, xác định từ sông Gianh (tỉnh Quảng Bình) trở ra Bắc. Kinh đô Đàng Ngoài là Thăng Long (còn gọi là Đông Kinh, Kinh Kỳ hay Kẻ Chợ).

(tranh vẽ đám rước chúa Trịnh xuất hành) Đàng Ngoài (sử liệu chữ Hán: 北河 Bắc Hà) hay An Nam, Vương quốc Đông Kinh (Tunquin, Tonqueen, Tonquin, Tonkin, Ton Kin...) là tên gọi vùng lãnh thổ Đại Việt kiểm soát bởi Chúa Trịnh, xác định từ sông Gianh (tỉnh Quảng Bình) trở ra Bắc. Kinh đô Đàng Ngoài là Thăng Long (còn gọi là Đông Kinh, Kinh Kỳ hay Kẻ Chợ).

(Bản đồ Việt Nam khoảng năm 1760, vẽ bởi công ty Cóvens e Mortier, Amsterdam. Đàng Ngoài được chú là Gan Nam ou Ton Kin (An Nam hoặc Đông Kinh))

Năm 1527, Mạc Đăng Dung phế bỏ triều Lê lập ra triều Mạc (1527 - 1592). Một tướng của nhà Lê là Nguyễn Kim tập hợp lực lượng chống Mạc ở Thanh Hoá nhằm khôi phục triều Lê; năm 1533, lập Lê Trang Tông lên làm vua. Năm 1545, Nguyễn Kim chết, binh quyền giao cho con rể là Trịnh Kiểm. Năm 1592, con Trịnh Kiểm là Trịnh Tùng đánh bại triều Mạc, chiếm lại kinh thành Thăng Long, cùng con cháu họ Trịnh kế tục xưng vương, nhân dân thường gọi là chúa Trịnh. Thực quyền nằm trong tay chúa Trịnh, còn vua Lê chỉ là danh nghĩa. Phạm vi thống trị của vua Lê - chúa Trịnh chỉ còn từ sông Gianh trở ra Bắc vì phía nam do Nguyễn Hoàng, con trai của Nguyễn Kim, và con cháu họ Nguyễn chiếm giữ, nhân dân cũng gọi là chúa Nguyễn.

Hai bên Trịnh - Nguyễn thường xuyên giao chiến, trong gần nửa thế kỷ từ 1627 đến 1672, hai bên đánh nhau 7 lần mà không có kết quả. Hai họ Trịnh, Nguyễn phải ngừng chiến tranh, lấy sông Gianh giới tuyến hai miền, phía bắc sông Gianh thuộc quyền vua Lê - chúa Trịnh gọi là Đàng Ngoài hay Bắc Hà (có kinh đô là Đông Kinh nên người phương Tây gọi là Tonquin hay Tonkin), phía nam sông Gianh thuộc chúa Nguyễn gọi là Đàng Trong hay Nam Hà.

Chấm dứt

Tận dụng biến cố từ phong trào Tây Sơn ở Đàng Trong, họ Trịnh mở bờ cõi Bắc Hà tới Thuận Hóa năm 1775. Sau khi đánh bại được quân Tây Sơn tại trận Cẩm Sa (Quảng Nam) rồi thu hàng Tây Sơn, nhận Tây Sơn làm tiên phong đi đánh chúa Nguyễn, chúa Trịnh lo hưởng lạc không chú trọng việc phòng bị. Ngay cả khi Nguyễn Nhạc giết được hai chúa Nguyễn rồi tự xưng làm vua Thái Đức (1778), họ Trịnh vì Quảng Nam xa xôi hiểm trở và ngại dùng binh nên không hỏi đến.

Sau khi Trịnh Sâm qua đời (1782), hai con là Trịnh Tông và Trịnh Cán tranh giành quyền lực. Cuối cùng Trịnh Tông giết phụ chính Hoàng Đình Bảo, lật đổ Trịnh Cán giành ngôi. Thủ hạ của Đình Bảo là Nguyễn Hữu Chỉnh vào nam đầu hàng Tây Sơn. Chính quyền Trịnh Tông không ổn định được Bắc Hà, ngày càng suy yếu.

Năm 1786, sau khi đánh bật chúa Nguyễn Ánh ra khỏi Đại Việt, Tây Sơn tiến ra bắc đánh Trịnh với danh nghĩa "phù Lê diệt Trịnh" theo đề nghị của Nguyễn Hữu Chỉnh. Quân Trịnh lâu ngày không chiến đấu, chủ tướng trấn thủ Phú Xuân là Phạm Ngô Cầu không chú trọng việc binh nên thành Phú Xuân nhanh chóng thất thủ.

Sang tháng 7 năm 1786, quân Tây Sơn do Nguyễn Huệ chỉ huy tiến ra bắc. Quân Trịnh rệu rã liên tiếp thất bại. Trịnh Tông chạy trốn khỏi kinh thành, bị bắt đã tự sát trên đường bị áp giải.

Họ Trịnh bị tiêu diệt, chính thể Đàng Ngoài chấm dứt tồn tại. Khi Tây Sơn rút về nam trả lại chính thể cho vua Lê, lực lượng họ Trịnh còn cố gắng tái lập nhưng không thành công. Chính thể của vua Lê sau đó mâu thuẫn với Tây Sơn, cầu viện nhà Thanh sang giúp nhưng thất bại và nhà Hậu Lê chấm dứt tồn tại năm 1789.

Các đời chúa Trịnh

Trịnh Kiểm 1545–1570 (25 năm) hiệu Thế Tổ,Đương thời khi cầm quyền, ông không xưng là chúa nhưng được đời sau truy tôn là Minh Khang Thái vương. Do đó, ông không phải là vị chúa Trịnh đầu tiên. Đời vua: Lê Trang Tông (1533–1548), Lê Trung Tông (1548–1556), Lê Anh Tông (1556–1573)

Trịnh Cối 1570. Năm 1570, đầu hàng nhà Mạc, được Mạc Kính Điển phong làm Trung Lương hầu. Sau khi chết được Lê đế xá tội, truy tặng Thái phó, tước Trung quốc công. Do đó, ông không được xem là chúa Trịnh đầu tiên. Đời vua Lê Anh Tông

Bình An vương Trịnh Tùng 1570–1623 (53 năm), hiệu Thành Tổ(成祖). Ông là vị chúa Trịnh đầu tiên trong lịch sử. Con thứ của Thế Tổ Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm. Đời vua: Lê Anh Tông, Lê Thế Tông (1573–1599) Lê Kính Tông (1599–1619) Lê Thần Tông (lần một: 1619-1643)

Thanh Đô vương Trịnh Tráng 1623–1657 (34 năm), Văn Tổ(文祖). Con thứ hai của Bình An vương Trịnh Tùng, cháu nội của Thế Tổ Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm. Đời vua: Lê Chân Tông (1643–1649) Lê Thần Tông (lần hai: 1649–1662)

Tây Định vương Trịnh Tạc 1657–1682 (25 năm), Hoằng Tổ(弘祖). Con thứ hai của Thanh Đô vương Trịnh Tráng, cháu nội của Bình An vương Trịnh Tùng, chắt của Thế Tổ Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm. Đời vua: Lê Thần Tông, Lê Huyền Tông (1662–1671) Lê Gia Tông (1671–1675) Lê Hy Tông (1675–1705)

Định Nam vương Trịnh Căn 1682–1709 (27 năm), Chiêu Tổ(昭祖). Con trưởng của Tây Định vương Trịnh Tạc, cháu nội của Thanh Đô vương Trịnh Tráng, chắt của Bình An vương Trịnh Tùng. Đời vua: Lê Hy Tông Lê Dụ Tông (1705–1729)

An Đô vương Trịnh Cương 1709–1729 (20 năm), hiệu Hy Tổ(禧祖). Cháu chắt của Trịnh Căn, cháu nội của Lương Mục vương Trịnh Vịnh, con trai của Tấn Quang vương Trịnh Bính. Đời vua: Lê Dụ Tông, Lê Đế Duy Phường (1729–1732)

Uy Nam vương Trịnh Giang 1729–1740 (11 năm), hiệu Dụ Tổ(裕祖). Con trưởng của Trịnh Cương, bị ép nhường ngôi và tôn lên làm Thái thượng vương năm 1740. Đời vua: Lê Đế Duy Phường, Lê Thuần Tông (1732–1735), Lê Ý Tông (1735–1740)

Minh Đô vương Trịnh Doanh 1740–1767 (27 năm), hiệu Nghị Tổ(毅祖). Con thứ của An Đô vương Trịnh Cương, em trai của Uy Nam vương Trịnh Giang. Đời vua: Lê Ý Tông Lê Hiển Tông (1740–1786)

Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm 1767–1782 (15 năm), hiệu Thánh Tổ(聖祖). Con trưởng của Minh Đô vương Trịnh Doanh, cháu nội của An Đô vương Trịnh Cương. Đời vua: Lê Hiển Tông (1740–1786)

Điện Đô vương Trịnh Cán 9–10/1782 (1 tháng). Con thứ của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm, cháu nội của Minh Đô vương Trịnh Doanh, chắt của An Đô vương Trịnh Cương. Bị phế làm Cung quốc công và mất sau loạn kiêu binh 1782. Sau khi mất được ban thụy là Trung Cần. Đời vua: Lê Hiển Tông (1740–1786)

Đoan Nam vương Trịnh Tông 10/1782–1786 (4 năm). Con trưởng của Tĩnh Đô vương Trịnh Sâm, cháu nội của Minh Đô vương Trịnh Doanh, chắt của An Đô vương Trịnh Cương. Đời vua: Lê Hiển Tông (1740–1786)

Án Đô vương Trịnh Bồng 1786–1787 (1 năm). Con trưởng của Uy Nam vương Trịnh Giang, trốn mất tích sau 1787. Đời vua: Lê Mẫn Đế (1786–1789)

Tư Liệu & Hình Ảnh Lịch Sử